Điều tra thống kê về đặc tính, tính chất, nội dung, phương pháp tiếp cận v..v. về các nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam và trên thế giới. Đánh giá tính hiệu quả. Từ đó đưa ra so sánh tính hiệu quả giữa nền tảng trực tuyến trong và ngoài nước để đư
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.29 MB, 31 trang )
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ
Đề tài: Điều tra thống kê về đặc tính, tính chất, nội dung, phương pháp tiếp
cận v..v. về các nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam và trên thế giới.
Đánh giá tính hiệu quả. Từ đó đưa ra so sánh tính hiệu quả giữa nền tảng
trực tuyến trong và ngoài nước để đưa ra phương pháp nâng cao tính hiệu
quả.
Họ và tên: Trần Hoàng Long
Mã sinh viên: 19050432
Ngày sinh: 12/06/2001
Khoa: Kinh tế phát triển
Lớp: QH-2019-E KTPT2
Hà Nội, 2021
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Biểu đồ về giới tính của đối tượng được điều tra
Hình 2. Biểu đồ về độ tuổi của đối tượng được điều tra
Hình 3. Biểu đồ về nghề nghiệp của đối tượng được điều tra
Hình 4. Nội dung được tìm kiếm trên các nền tảng giáo dục trực tuyến
Hình 5. Biểu đồ thể hiện mức độ phổ biến của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt
Nam
Hình 6. Mức độ cần thiết của việc học trên các nền tảng giáo dục trực tuyến hiện
nay
Hình 7. Biểu đồ thể hiện các tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp của nền tảng giáo
dục trực tuyến tại Việt Nam
Hình 8. Biểu đồ thể hiện các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hình thức học trực
tuyến tại Việt Nam
Hình 9. Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu bài sau khi tham gia các khóa học trực tuyến
Hình 10. Biểu đồ thể hiện ý kiến về việc học trực tuyến thay thế học trưc tiếp
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Bảng thể hiện các tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp của nền tảng giáo dục
trực tuyến tại Việt Nam
Bảng 2. Bảng thể hiện các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hình thức học trực tuyến
tại Việt Nam
Bảng 3. Bảng thể hiện mức độ hiểu bài sau khi tham gia các khóa học trực tuyến
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................................4
1. Xác định dữ liệu cần thu thập ..................................................................................................5
Dữ liệu định tính ..........................................................................................................................5
Dữ liệu định lượng .......................................................................................................................5
2. Phân loại điều tra ......................................................................................................................6
CHƯƠNG I: XÂY DỰNG BẢNG HỎI ..........................................................................................7
Mục đích , yêu cầu điều tra .............................................................................................................7
Đối tượng , phạm vi , đơn vị điều tra ..............................................................................................7
Nội dung và tiêu thức điều tra .........................................................................................................8
Thời điểm , thời kì và thời hạn điều tra...........................................................................................9
CHƯƠNG II: XỬ LÝ DỮ LIỆU ...................................................................................................10
A. Thông tin đặc điểm mẫu ........................................................................................................10
B. Nhu cầu việc sử dụng các nền tảng giáo dục trực tuyến .....................................................11
C. Mức độ phù hợp của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam .....................................13
D. Đánh giá hiệu quả của hình thức giáo dục trực tuyến tại Việt Nam .................................16
E. Đánh giá hiệu quả một số nền tảng giáo dục trực tuyến trên thế giới...............................19
1. Nền tảng giáo dục trực tuyến tại Mỹ......................................................................................20
2. Nền tảng giáo dục trực tuyến tại một số nước khác trên thế giới ..........................................22
F. So sánh hiệu quả của nền tảng giáo dục trực tuyến ở Việt Nam với các nền
tảng giáo dục trực tuyến trên thế giới .......................................................................................23
1. Tiềm năng ..............................................................................................................................23
2. Thách thức .............................................................................................................................25
3. Giải pháp nâng cao tính hiệu quả của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam ...............27
KẾT LUẬN .....................................................................................................................................29
MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, sự phát triển không ngừng của cơng nghệ thơng tin nói chung và
Internet nói riêng đã mang lại những thay đổi đáng kể cho cuộc sống của nhân loại.
Internet thực sự là môi trường thông tin liên kết mọi người trên toàn thế giới, để cùng
chia sẻ những vấn đề mang tính xã hội. Tận dụng môi trường internet, xu hướng phát
triển các phần mềm hiện nay là xây dựng các ứng dụng có khả năng chia sẻ cao, vận
hành không phụ thuộc vào vị trí địa lý cũng như hệ điều hành, tạo điều kiện cho mọi
người có thể trao đổi, tìm kiếm thơng tin, học tập một cách dễ dàng, thuận lợi. ELearning (đào tạo trực tuyến) là một trong những mơ hình điển hình như thế. Việc học
khơng chỉ bó hẹp cho học sinh, sinh viên ở các trường mà dành cho tất cả mọi người,
khơng kể tuổi tác, hồn cảnh sống… E-Learning đã được thử nghiệm thành công và
sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Bước vào giai đoạn kinh tế tri thức, mô hình giáo dục trực tuyến xuất hiện và trở
thành một xu thế phát triển tất yếu của các nước trên thế giới. Mặc dù là quốc gia đang
phát triển song Việt Nam đã nhanh chóng bắt nhịp xu hướng này và là thị trường tiềm
năng của nhiều nhà đầu tư trong và ngồi nước.
Mơ hình giáo dục trực tuyến (Online learning hay E-Learning) xuất hiện đầu tiên trên
thế giới tại Mỹ vào năm 1999, mở ra một môi trường học tập mới giúp người học có
thể tương tác thơng qua Internet trên các phương tiện truyền thông điện tử. Tuy nhiên,
phải đến năm 2010, khi các ứng dụng trên nền tảng di động và mạng xã hội
(Facebook, Google Plus, Instagram...) phát triển, mang lại khả năng tương tác mọi lúc,
mọi nơi cho người dùng thì xu thế E-Learning mới thực sự lan tỏa trên toàn
cầu. Đến nay, E-Learning đã ghi tên mình vào bản đồ các ngành cơng nghiệp sơi động
nhất thế giới.
Theo The Economist, số người tham gia học E-Learning trên thế giới đã tăng lên
nhanh chóng từ khoảng 36 triệu người năm 2015 lên 60 triệu người năm 2016 và đạt
gần 70 triệu người vào năm 2017. Số lượng người dùng không ngừng tăng lên đã kéo
theo sự gia tăng về doanh thu của ngành công nghiệp này.
Trên cơ sở ấy, bài nghiên cứu được tiến hành để điều tra về nội dung, tính chất,
phương pháp tiếp cận,… của mơ hình giáo dục trực tuyến ở Việt Nam, qua đó đánh
giá tính hiệu quả và so sánh với các nền tảng giáo dục trực tuyến trên thế giới để từ đó
đưa ra giải pháp nâng cao tính hiệu quả và tiềm năng của nền tảng giáo dục trực tuyến
tại Việt Nam trong thời đại ngày nay.
1. Xác định dữ liệu cần thu thập
Dữ liệu của người dùng đối với nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam:
Dữ liệu định tính
-
Giới tính
-
Độ tuổi
-
Nghề nghiệp
-
Nơi học tập/ cơng tác hiện tại
-
Đã sử dụng nền tảng giáo dục trực tuyến chưa
-
Dành bao nhiêu thời gian trong một tuần cho việc học trên các nền tảng giáo
dục trực tuyến
Dữ liệu định lượng
Dữ liệu định lượng chủ yếu được thu thập theo thang đo khoảng :
-
Nhu cầu của việc học trên các nền tảng giáo dục trực tuyến
-
Mức độ phù hợp của hình thức học trực tuyến (Việc thu phí, việc tìm kiếm các
bài giảng, nội dung bài giảng, an tồn thơng tin người học,…)
-
Hiệu quả của hình thức học trực tuyến (Khả năng tương tác, hỗ trợ; thời gian
học; sức khỏe, tinh thần người học; mức độ hiểu bài;…)
-
Học trực tuyến có thể thay thế học trực tiếp hay khơng
Nguồn dữ liệu :
-
Sơ cấp: Điều tra khảo sát online thông qua hình thức bảng hỏi
-
Thứ cấp: Tham khảo thông tin từ các bài báo, các bài nghiên cứu đã có trên
Internet.
2. Phân loại điều tra
Việc khảo sát của nhóm khơng thể điều tra tồn bộ tất cả người dùng giáo dục trực
tuyến trên lãnh thổ Việt Nam, mà chỉ lấy một bộ phận nhỏ. Mục đích để căn cứ vào bộ
phận đó để suy rộng cho tổng thể chung – người sử dụng nền tảng giáo dục trực tuyến
tại Việt Nam.
Căn cứ vào phạm vi tổng thể tiến hành điều tra : Điều tra khơng tồn bộ và điều tra
khơng chọn mẫu
Điều tra khơng tồn bộ: Thu thập thơng tin của một số đơn vị được chọn từ tổng thể
chung. Mục đích có thơng tin làm căn cứ nhận định hoặc suy rộng cho tổng thể chung.
Phần khảo sát đã thực hiện thuộc điều tra chọn mẫu.
Điều tra chọn mẫu: tiến hành điều tra thu thập thông tin trên một số đơn vị của tổng
thể chung theo phương pháp khoa học sao cho các đơn vị này phải đại diện cho cả
tổng thể chung đó. Kết quả điều tra dùng để suy rộng cho cả tổng thể chung.
Ưu điểm: Nhanh, tiết kiệm, tương đối chính xác, nghiên cứu sâu hơn…
Với việc khảo sát điều tra chọn mẫu này, sẽ giúp tác giả giảm được thời gian đi trưng
dụng ý kiến, đi lấy ý kiến, với việc khảo sát qua hình thức online. Điều này sẽ làm cho
q trình khảo sát trở nên nhanh chóng và tiết kiệm chi phí đi lại. Việc khảo sát này
cũng sẽ giúp tác giả có được số liệu khách quan và nghiên cứu được hiệu quả của nền
giáo dục trực tuyến tại Việt Nam một cách nhanh gọn nhất.
Dưới đây là phân loại điều tra thống kê của bài nghiên cứu:
Về thời gian, bài nghiên cứu được tiến hành điều tra không thường xuyên. Về phạm vi
là điều tra khơng tồn bộ dưới phương thức điều tra chọn mẫu. Với cách tiếp cận điều
tra không trực tiếp.
CHƯƠNG I: XÂY DỰNG BẢNG HỎI
Mục đích , yêu cầu điều tra
Mục đích chung của cuộc điều tra này là tiến hành điều tra về nội dung, tính chất,
phương pháp tiếp cận,… của mơ hình giáo dục trực tuyến ở Việt Nam, qua đó đánh
giá tính hiệu quả và so sánh với các nền tảng giáo dục trực tuyến trên thế giới để từ đó
đưa ra giải pháp nâng cao tính hiệu quả và tiềm năng của nền tảng giáo dục trực tuyến
tại Việt Nam trong thời đại ngày nay. Đồng thời xem xét xem việc học trực tuyến có
thể thay thế cho hình thức học trực tiếp hay khơng.
u cầu cụ thể của điều tra này :
Đo lường mức độ cần thiết của việc học trực tuyến đối với người tiêu dùng
Xác định và đo lường các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của việc học trên
các nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam
Mức độc phù hợp của một số tiêu chí thuộc nền tảng giáo dục trực tuyến tại
Việt Nam, trên đánh giá của người dùng, đưa ra được một số kiến nghị cho vấn
đề được tìm thấy. Xem xét xem việc học trực tuyến có thể thay thế học trực
tiếp hay không.
Đối tượng , phạm vi , đơn vị điều tra
Đối tượng điều tra là tổng thể các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu có các dữ liệu
cần thiết khi tiến hành điều tra. Xác định đối tượng điều tra là xác định phạm vi đối
tượng cần nghiên cứu, cần điều tra nhằm thu thập tài liệu chính xác, không nhầm lẫn
với các hiện tượng khác. Đơn vị điều tra là từng đơn vị cá biệt thuộc đối tượng điều
tra và được xác định sẽ điều tra thực tế. Trong điều tra khơng tồn bộ, số đơn vị điều
tra là những đơn vị được chọn ra từ tổng thể các đơn vị thuộc đối tượng điều tra.
Dựa vào khái niệm trên xác định được đối tượng và đơn vị điều tra của cuộc khảo sát :
Đối tượng điều tra của khảo sát : người sử dụng thuộc mọi độ tuổi đang học tập, công
tác tại Việt Nam.
Phạm vi điều tra : Điều tra khơng tồn bộ, điều tra chọn mẫu một bộ phận học sinh,
sinh viên, người có việc làm ở các độ tuổi khác nhau.
Đơn vị điều tra của khảo sát : học sinh trường THPT Chuyên Lam Sơn (Thanh Hóa),
học sinh trường THPT Hàm Rồng (Thanh Hóa), học sinh trường THPT Đơng Sơn 1
(Thanh Hóa), sinh viên Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên Đại học
Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên Học viện An ninh nhân dân, sinh
viên Đại học Thương Mại Hà Nội, sinh viên Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh,
sinh viên Đại học Duy Tân (Đà Nẵng), sinh viên Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc
gia Hà Nội, sinh viên Đại học Luật Hà Nội, bác sĩ bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải
Phịng, nhân viên cơng ty Schannel TP. Hồ Chí Minh…
Nội dung và tiêu thức điều tra
Căn cứ vào đối tượng điều tra nhóm xác định được nội dung và tiêu thức điều tra của
cuộc khảo sát.
Tiêu thức điều tra : Điều tra về đặc tính, tính chất, nội dung, phương pháp tiếp cận
v..v. về các nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam.
Nội dung là các câu hỏi liên quan đến đối tượng khảo sát:
Xác định đối tượng thuộc giới tính gì, thuộc độ tuổi nào, nghề nghiệp gì.
Xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc học trực tuyến như cơ sở
vật chất, môi trường xung quanh, phương pháp giảng dạy của giảng viên,…
Xác định mức độ phù hợp của việc học trực tuyến như việc thu phí, tiếp thu
bài, bảo mật thơng tin người học, chất lượng người dạy,…
Cuối cùng xác định việc học trực tuyến có thể thay thế việc học trực tiếp hay
khơng.
Qua nội dung đưa ra phiếu điều tra được tiến hành như sau :
/>
Thời điểm , thời kì và thời hạn điều tra
Thời điểm điều tra là mốc thời gian được quy định thống nhất mà cuộc điều tra phải
thu thập thông tin về hiện tượng tồn tại đúng thời điểm đó. Tuỳ theo tính chất, đặc
điểm của hiện tượng nghiên cứu mà xác định thời điểm điều tra. Tuy nhiên, thời điểm
điều tra thường được xác định vào lúc hiện tượng ít biến động nhất và gắn kết với
những kế hoạch của địa phương.
Thời điểm điều tra của nghiên cứu về mức độ phù hợp của việc học trực tuyến là 18h
ngày 30/6/2021.
Thời kỳ điều tra là khoảng thời gian (tuần, tháng, quý, năm,…) được quy định để thu
thập số liệu về lượng của hiện tượng nghiên cứu được tích lũy trong cả thời kỳ đó.
Điều tra mức độ hiệu quả của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam trong vòng
10 ngày vừa qua.
Thời hạn điều tra (thời gian điều tra) là khoảng thời gian dành cho việc thực hiện
nhiệm vụ thu thập, ghi chép số liệu. Thời hạn điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào quy
mơ, tính chất phức tạp của hiện tượng, nội dung nghiên cứu và lực lượng tham gia
nhưng nhìn chung, thời hạn điều tra khơng nên q lâu vì sẽ dẫn đến việc thu thập tài
liệu thiếu chính xác.
Thời hạn điều tra của Cuộc điều tra về mức độ hiệu quả của nền tảng giáo dục trực
tuyến tại Việt Nam là từ ngày 30/6/2021 đến hết ngày 9/7/2021. Trong khoảng thời
gian này điều tra viên phải hoàn thành định mức điều tra và việc điều tra ở các lớp đối
tượng.
CHƯƠNG II: XỬ LÝ DỮ LIỆU
A. Thông tin đặc điểm mẫu
Hình 1. Biểu đồ về giới tính của đối tượng được điều tra
Cuộc điều tra về hiệu quả của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam được thực
hiện trên phạm vi toàn xã hội. 80 phiếu được điều tra gián tiếp qua bảng khảo sát
online. Trong tổng số 80 phiếu, có tới 55 đối tương là nữ (chiếm 68,8%), 23 người là
nam chỉ chiếm 28,7% và chỉ có 2 người cịn lại với 2,5% thuộc giới tính khác. Có thể
thấy số lượng đối tượng khảo sát chủ yếu là nữ.
Hình 2. Biểu đồ về độ tuổi của đối tượng được điều tra
Bên cạnh đó, về độ tuổi thì dữ liệu cho thấy chủ yếu đối tượng điều tra thuộc độ tuổi
18-22 (85%), theo sau đó là 5 người thuộc nhóm 15-18 (6,3%) và 7 người được chọn
khảo sát ở nhóm tuổi 23-30.
Hình 3. Biểu đồ về nghề nghiệp của đối tượng được điều tra
Về nghề nghiệp, khảo sát cũng cho thấy đối tượng của khảo sát đa số là sinh viên
(86,3%), học sinh chỉ chiếm 6,3% và người đi làm khoảng 7,5%.
Vì số lượng người được khảo sát được khá ít (80 người) nên khảo sát chỉ đánh giá 1
cách tương đối về mức độ hiệu quả của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam.
B. Nhu cầu việc sử dụng các nền tảng giáo dục trực tuyến
Hình 4. Nội dung được tìm kiếm trên các nền tảng giáo dục trực tuyến
Qua việc điều tra về các nội dung thường được tìm kiếm trên các nền tảng học trực
tuyến, có thể thấy sức hút chủ yếu từ các chương trình ơn thi, các bài bài giảng online
khi nội dung này chiếm đến 78,8% với 63 người bình chọn, tiếp sau là các khóa học
ngoại ngữ cũng khá có triển vọng khi chiếm tới 33,8% (27 người chọn) và các khoá
học kỹ năng cũng tương đối được quan tâm khi chiếm 21,3% (17 người chọn). Ngồi
ra có một số ý kiến nhỏ lẻ khác được đưa ra liên quan đến nội dung được tìm kiếm
trên các nền tảng giáo dục trực tuyến như tra các thơng tin, tìm lời giải,... Nhìn chung
lại, các nền tảng giáo dục trực tuyến hiện nay vẫn phổ biến nhất khi được biết đến với
các bài giảng, chương trình ơn thi là chủ yếu.
Hình 5. Biểu đồ thể hiện mức độ phổ biến của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam
Khảo sát đã chỉ ra rõ mức độ phổ biến của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam.
Khảo sát cho thấy trong số 80 trả lời đã có tới 77,5% đã sử dụng nền giáo dục trực
tuyến (62 người), 18,8% biết đến nhưng chưa sử dụng (15 người) và chỉ có 3,8% (3
người) khơng biết đến. Như vậy, có thể khẳng định nền tảng giáo dục trực tuyến tại
Việt Nam đã khá phổ biến và được biết đến rộng rãi trong xã hội.
Hình 6. Mức độ cần thiết của việc học trên các nền tảng giáo dục trực tuyến hiện nay
Đánh giá về mức độ cần thiết của việc học trực tuyến hiện nay, đặc biệt trong thời kì
đại dịch, 97,5% chọn cần thiết và rất cần thiết, chỉ có 2,5% chọn khơng cần thiết. Như
vậy có thể kết luận, với tình hình dịch bệnh như hiện tại việc học trực tuyến là thật sự
cần thiết.
C. Mức độ phù hợp của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam
Hình 7. Biểu đồ thể hiện các tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp của nền tảng
giáo dục trực tuyến tại Việt Nam
Tiêu chí
Khơng
%
Khơng
đồng ý
chắc
(người)
chắn
%
Đồng ý
%
Tổng
(người)
(người)
Việc thu và nộp
4
5%
31
38,75%
45
56,25%
80
3
3,75%
14
22,5%
63
78,75%
80
0
0%
30
37,5%
50
62,5%
80
7
8,75%
55
68,75%
18
22,5%
80
5
6,25%
43
53,75%
32
40%
80
phí là dễ dàng,
thuận tiện
Việc tìm kiếm các
bài giảng, khóa
học mình cần là dễ
dàng, nhanh
chóng
Nội dung bài giảng
(slide, video, văn
bản,...) hấp dẫn,
đa dạng
Bảo mật thơng tin
người dùng hồn
tồn bảo đảm
Trình độ chun
mơn, bằng cấp của
người dạy đảm
bảo uy tín
Bảng 1. Bảng thể hiện các tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp của nền tảng giáo dục
trực tuyến tại Việt Nam
Đối với việc thu học phí trên các nền tảng giáo dục trực tuyến, chỉ có 5% cho rằng
khơng dễ dàng, thuận tiện, trong khi đó có đến 56,25% đồng ý rằng hồn tồn dễ dàng
và thuận tiện, 38,75% cịn lại khơng chắc chắn. Như vậy có thể khẳng định trong thời
buổi cơng nghệ thơng tin phát triển như hiện tại, việc nộp phí bằng nhiều hình thức
khác nhau như chuyển khoản ngân hàng, chuyển tiền bằng thẻ điện thoại, qua ví điện
tử,… đã phần nào khẳng định công việc này đã tương đối trở nên dễ dàng, thuận tiện.
Về vấn đề tìm kiếm các bài giảng, khóa học mình cần, 63/80 người (78,75%) tán
thành rằng việc này là dễ dàng và nhanh chóng. Như vậy theo ý kiến đa số, có thể coi
rằng việc tìm kiếm các bài giảng, khóa học phù hợp với bản thân qua hệ Internet đã
thực sự đơn giản và nhanh chóng.
Đối với việc nội dung bài giảng (slide, video, văn bản,...) đã thực sự hấp dẫn, đa dạng,
có đến 62,5% đồng ý, 37,5% không chắc chắn và không ai phản đối. Như vậy, hiện
nay có thể khẳng định việc thiết kế nội dung bài giảng của các trang giáo dục trực
tuyến dưới nhiều hình thức khác nhau đã khá thu hút, bắt mắt và hấp dẫn người sử
dụng.
Đối với một vấn đề khá nhạy cảm, đó là việc bảo mật thơng tin người dùng, có tới
68,75% khơng chắc chắn về nó, như vậy chứng tỏ trong tương lai, hệ thống giáo dục
trực tuyến tại Việt Nam cần khắc phục vấn đề này, phải đưa ra được những giải pháp
để nâng cao tính bảo mật, đảm bảo an tồn thơng tin người học, tránh để xảy ra những
tình trạng rị rỉ thơng tin cá nhân của người dùng (tên, tuổi, số CMND, sô tài
khoản,…) vào tay những kẻ xấu như một số vụ việc đã từng xảy ra trước đây.
Về vấn đề trình độ chun mơn, bằng cấp của người dạy đã thực sự uy tín, chỉ 6,25%
khơng tán thành, 40% đồng ý và có tới 53,75% khơng chắc chắn. Như vậy, thực sự
cần thiết nâng cao trình độ chun mơn cũng như đưa ra được những cơ sở để chứng
minh về uy tín của người dạy trong thời gian tới đối với các nền tảng giáo dục trực
tuyến tại Việt Nam.
D. Đánh giá hiệu quả của hình thức giáo dục trực tuyến tại Việt Nam
Tiêu chí
Học trực tuyến
Khơng
%
Khơng chắc
đồng ý
chắn
(người)
(người)
%
Đồng ý
%
Tổng
(người)
10
12,5%
46
57,5%
24
30%
80
1
1,25%
7
8,75%
72
90%
80
15
18,75%
46
57,5%
19
23,75%
80
5
6,25%
27
33,75%
48
60%
80
17
21,25%
45
56,25%
18
22,5%
80
2
2,5%
17
21,25%
61
76,25%
80
1
1,25%
29
36,25%
50
62,5%
80
giúp tôi tiếp thu
bài tốt hơn
Thời gian học
được linh hoạt,
tiết kiệm thời gian
hơn
Tương tác, trao
đổi giữa người học
và người dạy được
dễ dàng, thuận
tiện hơn
Sức khỏe của tôi
bảo đảm khi học
trực tuyến
Học trực tuyến
giúp tôi tập trung
hơn
Tôi đủ điều kiện
cơ sở vật chất để
tham gia học trực
tuyến (wifi,
laptop, điện thoại,
máy tính bảng,...)
Bài tập được giao
đã thiết kế phù
hợp với chương
trình được học
Bảng 2. Bảng thể hiện các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hình thức học trực tuyến tại
Việt Nam
Hình 8. Biểu đồ thể hiện các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hình thức học trực
tuyến tại Việt Nam
Về vấn đề học trực tuyến có giúp tiếp thu bài tốt hơn hay khơng, có 12,5% khơng
đồng ý, 30% đồng ý và có tới 57,5% khơng chắc chắn. Như vậy, hiệu quả tiếp thu bài
của việc học trực tuyến chưa thể chắc chắn chiếm ưu thế hơn so với việc học trực tiếp.
Về việc linh hoạt trong thời gian học để tiết kiệm được thời gian hơn của việc học trực
tuyến, chỉ duy nhất 1 người không đồng ý, cịn lại 72/80 người (90%) hồn tồn đồng
ý rằng học trực tuyến tiết kiệm thời gian hơn. Như vậy có thể khẳng định học trực
tuyến có ưu điểm về thời gian linh hoạt hơn so với học trực tiếp.
Về tương tác, trao đổi giữa học viên và người dạy, 57,5% cho rằng là dễ dàng và
thuận tiện. Như vậy, có thể nói việc trao đổi giữa người học người dạy đã tương đối
dễ dàng và thuận tiện thông qua nhiều hình thức như trị chuyện trực tuyến, nhắn tin,
email,...
Về vấn đề sức khoẻ khi tham gia học trực tuyến đã thật sự chắc chắn bảo đảm chưa,
có 60% đồng ý, 34,75% khơng chắc chắn và 6,25% khơng đồng tình. Như vậy phần
lớn người sử dụng thấy đảm bảo về sức khoẻ qua việc học trực tuyến.
Tiếp đến, việc học trực tuyến có giúp tập trung hơn hay khơng thì đã có tới 56,25%
bình chọn khơng chắc chắn, chứng tỏ việc học trực tuyến còn bị tác động bởi nhiều
yếu tố bên ngoài gây ra mất tập trung, cần phải xem xét để đưa ra nhiều phương
hướng để nâng cao hiệu quả tập trung của người sử dụng khi tham gia học trực tuyến.
Về vấn đề điều kiện sở vật chất, 76,25% bình chọn cho rằng có thể đáp ứng về cơ sở
vật chất phục vụ việc học trực tuyến, chứng tỏ đa số người học đã có đầy đủ những
thiết bị thơng minh như điện thoại, laptop, ipad,... để tiến hành học trực tuyến một
cách hiệu quả.
62,5% đồng ý rằng bài tập được giao đã thiết kế phù hợp với chương trình học. Điều
này khẳng định điểm tích cực của nền tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam khi đã áp
dụng chương trình học thực tế để thiết kế một lượng bài tập phù hợp.
Hình 9. Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu bài sau khi tham gia các khóa học trực
tuyến
Mức độ hiểu bài
Số người bình chọn
%
0-20%
2
2,5%
20-40%
2
2,5%
40-60%
28
35%
60-80%
41
51,2%
80-100%
7
8,8%
Tổng
80
100%
Bảng 3. Bảng thể hiện mức độ hiểu bài sau khi tham gia các khóa học trực tuyến
Qua điều tra về mức độ hiểu bài (đầu ra/kết quả) của người sử dụng sau khi tham gia
các khóa học trực tuyến, có thể thấy 60% số người được khảo sát đã bình chọn cho
mức độ hiểu bài 60-100% chứng tỏ hiệu quả của các khóa học trực tuyến trong việc
truyền tải kiến thức đến người học là khá khả quan. Điều này nói lên sự uy tín của nền
tảng giáo dục trực tuyến tại Việt Nam, năng lực của hệ thống đội ngũ giáo viên cũng
như tiềm năng phát triển của nó trong tương lai sẽ có thể sánh ngang với việc truyền
đại kiến thức trực tiếp một cách truyền thống.
Hình 10. Biểu đồ thể hiện ý kiến về việc học trực tuyến thay thế học trưc tiếp
Theo kết quả khảo sát cho thấy, đại đa số đã nhận thấy được sự cần thiết của nền tảng
giáo dục trực tuyến tại Việt Nam, đặc biệt trog tình hình Covid-19 đang diễn biến cịn
nhiều phức tạp như hiện nay. Tuy nhiên, theo khảo sát có được, có đến 46,3% người
bình chọn khơng đồng ý sự thay thế của học trực tuyến thay cho học trực tiếp. Điều
này nói lên rằng hình thức học trực tuyến hiện tại vẫn chưa để thay thế tiềm năng của
hịnh thức học trực tiếp truyền thống.
E. Đánh giá hiệu quả một số nền tảng giáo dục trực tuyến trên thế giới
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO dự báo: Công
nghệ thông tin (CNTT) sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và tồn diện, có
hệ thống và mang tính hội nhập cao vào đầu thế kỉ XXI. Sự bùng nổ và phát triển về
công nghệ giáo dục sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người
(“dạy học cho mọi người và mỗi người”, “sự gia tăng tri thức và nhu cầu chia sẻ”, “tập
trung hóa kiến thức và dịch chuyển năng lực”, “các yếu tố bền vững, truyền thống và
sự hội nhập trong không gian giáo dục”…). Quá trình này dẫn đến sự cần thiết phải
nhìn nhận lại giá giá trị và ý nghĩa của việc dạy học (giáo dục nói chung) dưới góc độ
mối quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về bản chất của quá
trình thực thi các chương trình giáo dục.
Báo cáo tại Diễn đàn kinh tế thế giới 2016 tại Davos với sự tham gia của hơn 2500
nhân vật ảnh hưởng và quyền lực nhất thế giới đã chia sẻ con số đáng suy ngẫm: 65%
số người học vẫn học những thứ liên quan đến nghề nghiệp tương lai mà hiện nay đã
khơng cịn tồn tại; 47% nghề nghiệp hiện nay sẽ được chuyển sang tự động hóa trong
2 thập kỉ tới và đến năm 2020, hơn 50% nội dung dạy học trong nhà trường các cấp sẽ
khơng cịn hữu dụng trong vịng 5 năm sau đó (Klaus Schwab, 2016).
Tiếp cận giáo dục, dạy học thông minh được nhắc đến từ những năm đầu thế kỉ XXI
và ngày càng được nghiên cứu và phát triển theo các mơ hình đa dạng (4C - Kĩ năng
thế kỉ 21, CBE - dạy học phát triển năng lực, OBE - dạy học theo tiếp cận đầu ra, dạy
học theo mơ hình VSK - giá trị, kĩ năng, kiến thức v.v.). Trong đó nhấn mạnh đến sự
chuyển đổi từ cách dạy học truyền thống sang một phương thức mới theo tiếp cận
cơng nghệ với các mơ hình dạy học phi truyền thống. Để đáp ứng nhu cầu về giáo
dục, đào tạo, mơ hình đào tạo trực tuyến (E-Learning) đã ra đời, đáp ứng xu thế hội
nhập về giáo dục, đào tạo của Việt Nam.
1. Nền tảng giáo dục trực tuyến tại Mỹ
E-Learning hoạt động sôi động nhất tại Mỹ, quốc gia có nền giáo dục hàng đầu thế
giới. Theo thống kê của Cyber Universities năm 2018, có hơn 80% trường đại học
nước này sử dụng phương thức đào tạo E-Learning. Tham gia thị trường giáo dục trực
tuyến của Mỹ cịn có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ MOOC (Massive Online
Open Coures - các khóa học trực tuyến quy mơ lớn) nổi tiếng nhất, có thể được kể tên
như Coursera, edX và Udacity… E-Learning còn được coi như là một kênh đào tạo
nhân viên hiệu quả khi có tới 77% cơng ty ở Mỹ đưa các khóa học E-Learning vào
chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhân viên của mình.
Ở Mỹ, đã có hàng triệu học sinh phổ thơng đăng ký học Online. Đưa lớp học lên mạng
Internet là một trào lưu đang bùng nổ tại những nước này. Không chỉ là một phong
trào tự phát, tại nhiều bang ở Hoa Kỳ các nhà quản lý giáo dục đã ban hành quy định
trước khi được công nhận tốt nghiệp, mỗi học sinh phải đăng ký học một số môn nhất
định tại các lớp học trực tuyến. Theo lý giải của các nhà quản lý, đây là bước chuẩn bị
nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiếtcho việc học tại các trường đại
học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỷ 21.
Dưới đây là một số trang giáo dục trực tuyến thịnh hành tại Mỹ:
1.1. Lynda.com
Lynda được thành lập năm 1995, tại Mỹ. Hiện nay, Lynda sỡ hữu khoảng 3.870 khóa
học với 162.807 video giảng dạy, đây là 1 cơ sở dữ liệu khóa học trực tuyến thuộc
hàng top hiện nay. Theo tin tức mới nhất, tháng 4/2015 Linkedin đã mua lại website
giáo dục trực tuyến này.
Tại Lynda, người dạy khóa học, 100% là các chuyên gia trong lĩnh vực của khóa học
đó và sau khi kết thúc khóa học thì bạn sẽ có chứng chỉ (certificate) của khóa học.
Đây là website giáo dục trực tuyến mà học viên phải trả phí 100% và gần như là
website tồn tại lâu nhất và cũng là platform có nhiều kinh nghiệm nhất trong việc tối
ưu các khóa học, ngành học về giáo dục trực tuyến cho đến hiện nay. Lynda cho phép
người sử dụng 10 ngày trước khi quyết định mua gói học tập nào trên Lynda.
1.2. Coursera.org
Coursera được thành lập tháng 4/ 2012, tại Mỹ và là website giáo dục trực tuyến có
partner là các trường đại học nhiều nhất so với các đối thủ cịn lại.
Website cung cấp miễn phí 100% các khóa học như: đầu tư, thị trường tài chính...Đặc
biệt, các khóa học trên Coursera chỉ do các giáo sư của các trường Đại học giảng dạy.
Tuy nhiên, nếu các bạn học trên Coursera thì các bạn phải sắp xếp thời gian theo đúng
khóa học trên Coursera quy định, trung bình bạn phải dành 3 đến 15 tiếng/tuần để học
trực tuyến. Nếu miễn phí 100% từ các bài giảng của các giáo sư đại học danh tiếng là
điểm mạnh của Cousera thì học theo lịch sắp sẵn là điểm yếu của Platform này. Điều
này gây ra cho các học viên sự bất tiện rất lớn vì tùy theo múi giờ mỗi đất nước, thời
gian sắp xếp của mỗi học viên sẽ khác nhau.
1.3. Edx.org
EdX là một hệ thống cung cấp các Khóa học trực tuyến đại chúng mở (massive open
online course - MOOC), được thành lập bởi Học viện Công nghệ Massachusetts và
Đại học Harvard vào tháng 5/2012. Theo thống kê, hiện nay có khoảng 1,2 triệu người
sử dụng.
Các khóa học trực tuyến của EdX hồn tồn miễn phí 100% và được giảng dạy bởi
các chuyên gia, giáo sư từ các trường đại học, cao đẳng, học viện hàng đầu thế
giới.Trang website cung cấp các khoá học ở cấp độ đại học trong nhiều chuyên ngành
khác nhau cho mọi đối tượng trên thế giới. Ngoài việc cung cấp những khố học miễn
phí EdX cịn tiến hành các nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục...
2. Nền tảng giáo dục trực tuyến tại một số nước khác trên thế giới
Bên cạnh Mỹ, Châu Á cũng là một thị trường cung cấp dịch vụ E-Learning khá “nhộn
nhịp”. Theo tờ University World News, tổng doanh thu đạt được trong lĩnh vực ELearning năm 2018 của khu vực này là khoảng 12,1 tỷ USD, trong đó Ấn Độ và
Trung Quốc là hai quốc gia dẫn đầu, chiếm tới 70% vốn đầu tư mạo hiểm và 30%
tổng số người dùng giáo dục trực tuyến tồn thế giới.
Đối với Hàn Quốc, Chính phủ xem đây như một cơng cụ để giảm tải chi phí dạy kèm
tại các trung tâm luyện thi, qua đó góp phần bình đẳng trong giáo dục. Cùng với đó,
kênh truyền hình học đường được mở ra cùng với website cung cấp các bài giảng ơn
thi đại học miễn phí, thu hút một số lượng rất lớn học sinh tham gia. Một số giáo viên,
giảng viên giỏi ở Hàn Quốc cho rằng e-learning mang lại cơ hội và sự công bằng hơn
cho giáo dục bởi những học sinh nghèo có thể tham gia vào khóa luyện thi của những
thầy giỏi với mức học phí rất ít so với lớp luyện thi thông thường.
Tại thị trường Trung Quốc, năm 2018, doanh thu của lĩnh vực E-Learning lên tới 5,2
tỷ USD. Mặc dù nền kinh tế nước bạn láng giềng có dấu hiệu suy giảm từ cuối năm
2018 đến nay do chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, song
giới kinh tế nhận định E-Learning vẫn rất phát triển, dường như để bù đắp cho sự thu
hẹp của một số ngành sản xuất trong nước.
Tuy không đạt được doanh thu lớn như Trung Quốc song Ấn Độ cũng là quốc gia có
E-Learning phát triển với doanh thu 0,7 tỷ USD trong năm 2018. Nổi bật trên thị
trường E-Learning Ấn Độ là BYJU (một đơn vị khởi nghiệp cung cấp ứng dụng học
trực tuyến cho đối tượng học sinh K-12) nhờ những ứng dụng học trực tuyến hấp
dẫn đối với người dân nước này và nhiều quốc gia khác. Theo báo cáo của Tổ chức tài
chính thế giới (IFC) năm 2018, tính từ thời điểm ra mắt tháng 10/2015 đến năm 2018,
ứng dụng học trực tuyến của BYJU đã phủ đến hơn 1.700 thành phố tại Ấn Độ và các
quốc gia tại Trung Đông với hơn 15 triệu lượt tải ứng dụng và gần 1 triệu người dùng
trả phí hàng năm. Tính đến 3/2018, doanh thu của BYJU đã chạm mốc 85 triệu USD
và thu hút hơn 245 triệu USD đầu tư kể từ năm 2016.
Sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay đang là lực đẩy để ELearning tiếp tục tiến xa hơn trong tương lai và ước tính sẽ đạt 325 tỷ đơ la trên tồn
cầu vào năm 2025, bởi nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có sức ép lớn về
dân số, kinh tế như Ấn Độ, Philippines, Mexico... coi E-learning như cơ hội để đuổi
kịp và san bằng khoảng cách với các nước phát triển.
F. So sánh hiệu quả của nền tảng giáo dục trực tuyến ở Việt Nam với các nền
tảng giáo dục trực tuyến trên thế giới
1. Tiềm năng
Việt Nam được đánh giá là bắt kịp nhanh xu hướng thế giới bởi ở thời điểm năm 2010,
khi E-Learning bắt đầu trở thành một xu thế toàn cầu và lan tỏa ra nhiều quốc gia trên
thế giới thì ngay sau đó những doanh nghiệp trong nước cũng có những bước đi khai
phá đầu tiên, cho ra mắt một loạt các trang web học trực tuyến như Violet.vn,
Hocmai.vn, Topica, Onluyen.vn, Speakup.vn, Mathplay… Đến nay, E-Learning đã trở
thành một mơ hình học tập thu hút lƣợng lớn người sử dụng, đặc biệt là tại các thành
phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh với độ phủ đối tượng khá rộng, từ học sinh các
cấp, sinh viên tới người đi làm. Hoạt động giáo dục trực tuyến tại Việt Nam cung cấp
chủ yếu các nhóm dịch vụ là: Các khóa học ngoại ngữ; Các chương trình ơn thi/bài
giảng kiến thức phổ thơng (cấp 2, cấp 3) và khóa học kỹ năng. Nội dung các bài giảng
E-Learning khá phong phú, được thiết kế tích hợp dưới nhiều hình thức thể hiện khác
nhau như video, clip, hiệu ứng âm thanh, hình ảnh minh họa sinh động… nhưng vẫn
đảm bảo sự tương tác với giáo viên. Riêng với chương trình dành cho học sinh phổ
thông các cấp, nhiều trang học trực tuyến cung cấp hệ thống dữ liệu hàng nghìn bài
giảng được thiết kế bám sát chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Một kênh học
trực tuyến tên khá quen thuộc đối với người dùng Việt Nam có thể nói đến là
hocmai.vn của Hệ thống Giáo dục hocmai.vn. Sau hơn 10 hoạt động, trang website
hocmai.vn đã thu hút tới 3,5 triệu thành viên tham gia với trên 10.000 lượt truy cập và
học tập đồng thời; cung cấp hơn 1.000 khóa học, 30.000 bài giảng mỗi năm của hơn
200 giáo viên trên các thiết bị máy tính, laptop, điện thoại… Theo số liệu 3 năm gần
nhất của Hệ thống này, tỷ lệ người dùng đăng ký mới trên hệ thống học trực tuyến của
đơn vị tăng gần 20% mỗi năm, trong đó, tỷ lệ người học trả phí tăng hơn 30%/năm.
Điều này cho thấy xu hướng người dùng sử dụng E-Learning tại hocmai.vn vẫn đang
ngày một nhiều hơn.
Cùng với hocmai.vn thì Tổ hợp Công nghệ giáo dục Topica cũng là một địa chỉ được
hàng nghìn người dùng lựa chọn để học tập với các giải pháp giáo dục trực tuyến đa
dạng như: Chƣơng trình cử nhân trực tuyến (Topica Uni); Học tiếng Anh trực tuyến
(Topica Native); Nền tảng cơng nghệ cho khóa học trực tuyến mở trên nhiều lĩnh vực
(Edumall).
Đáng chú ý là E-Learning không chỉ thu hút sự quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp
mà còn là một xu hướng được ngành giáo dục Việt Nam lựa chọn. Cụ thể là Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã phối hợp với các doanh nghiệp triển khai E-Learning và thi trực
tuyến trong nước như cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử E- Learning” năm học
2009-2010 hay cuộc thi giải toán qua mạng tại website violympic.vn; cuộc thi
Olympic tiếng Anh trên mạng xã hội Go - ioe.go.vn… Nhiều trường đại học trong
nước cũng từng bước áp dụng mơ hình E-Learning bên cạnh phương pháp giáo dục
truyền thống trong chương trình giáo dục. Ví dụ như Trường Đại học Nguyễn Tất
Thành, Trường Đại học Bách Khoa (thuộc Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh), Trường
Đại học Mở TP Hồ Chí Minh… Ngồi ra, tại Việt Nam cịn có sự xuất hiện của trường
đại học chuyên đào tạo trực tuyến là FUNiX, một thành viên của hệ thống FPT
Education.
Việt Nam được đánh giá là một thị trường tiềm năng để phát triển E-Learning bởi có
hơn 60% dân số sử dụng Internet, người dùng chủ yếu là giới trẻ với nhu cầu học tập
cao, chi tiêu cho giáo dục chiếm 5,8% GDP và 20% tổng chi ngân sách (số liệu của Bộ
Giáo dục và Đào tạo). Do đó, E-Learning khơng cịn là sân chơi dành riêng cho những
tên tuổi quen thuộc xuất hiện từ những ngày đầu phát triển mà còn thu hút sự tham gia
của rất nhiều start-up Việt và các nguồn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các doanh
nghiệp đến từ Singapore. Thống kê đến hết năm 2020, Việt Nam đã có 309 dự án đầu
tư vào E-Learning với tổng số vốn đăng ký hơn 767 triệu USD. Dòng vốn đầu tư vào
thị trường được đánh giá là vẫn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo.
2. Thách thức
Mặc dù được đánh giá có tốc độ tăng trưởng khá nhanh so với các nước trong khu vực
song giới kinh tế nhận định thị trường E-Learning Việt Nam vẫn chưa khai thác hết
tiềm năng bởi số trường đại học tổ chức đào tạo trực tuyến chưa nhiều và học viên
theo học còn hạn chế. Hiện Việt Nam mới chỉ có duy nhất một trường đại học trực
tuyến là FUNiX với lượng học viên tham gia còn hạn chế là 1.000 học viên.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên được cho là các công ty giáo dục
trực tuyến ở Việt Nam phát triển một cách tự phát dẫn đến thị trường E-Learning Việt
Nam mới chỉ phát triển về lượng mà thiếu yếu tố về chất, nên hiệu quả mang lại chưa
cao. Phần lớn các chương trình tại Việt Nam vẫn tập trung vào phần luyện thi đại học,
luyện tiếng Anh hay các khóa học về kỹ năng mềm và cách làm của doanh nghiệp
giống nhau, dẫn đến việc đi vào lối mòn dạy và học… Một điểm khác khiến các trang
web học trực tuyến trở nên nhàm chán là thời gian cập nhật các bài giảng khá chậm,
với tần suất 2-3 ngày 1 lần, thậm chí một số trang web có tần suất cập nhật lên đến
hàng tuần hoặc cả tháng 1 tuần. Điều này thể hiện sự thiếu chuyên nghiệp của các đơn
vị cung cấp dịch vụ E-Learning. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục trực tuyến đòi hỏi
cơ sở dữ liệu lớn, an ninh mạng bảo mật, đường truyền tốc độ cao và đội ngũ hỗ trợ
vận hành chuyên nghiệp. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng các yêu cầu trên của các công