VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
TRỊNH THỊ QUYÊN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÌNH DỤC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT LUẬT
HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
TRỊNH THỊ QUYÊN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÌNH DỤC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRƯƠNG QUANG VINH
Hà Nội, năm 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Luật học “Quyết định hình phạt đối
với các tội xâm phạm tình dục từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” là cơng trình nghiên
cứu của riêng tơi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trương Quang Vinh.
Các số liệu, ví dụ và kết quả nghiên cứu trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Các thơng tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đều được
ghi rõ nguồn gốc.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Đồng Nai, ngày
tháng năm 2021.
Người cam đoan
Trịnh Thị Quyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH
DỤC.......................................................................................................................... 6
1.1. Khái niệm hình phạt và quyết định hình phạt..................................................... 6
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục đúng........................................................................................................... 12
1.3. Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục........14
1.4. Các căn cứ quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục...............22
Chương 2 THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM TÌNH DỤC TẠI TỈNH ĐỒNG NAI............................................. 33
2.1. Khái quát tình hình quyết định hình phạt các tội xâm phạm tình dục trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai................................................................................................... 33
2.2. Kết quả thực hiện các quy định pháp luật về quyết định hình phạt đối với các
tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.................................................. 39
2.3. Một số hạn chế, thiếu sót trong quyết định hình phạt đối với các tội xâm
phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và nguyên nhân.................................... 49
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐÚNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐỒNG NAI................................................................................................. 59
3.1. Các yêu cầu bảo đảm quyết định hình phạt đúng đối với các tội xâm phạm
tình dục.................................................................................................................... 59
3.2. Các giải pháp hồn thiện pháp luật................................................................... 61
3.3. Một số giải pháp khác...................................................................................... 63
KẾT LUẬN............................................................................................................ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 69
PHỤ LỤC............................................................................................................... 74
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ
X
: BLHS
luật
â
: QĐHP
Hìn
m
: TAND
h
p
: TNHS
sự
hạ
: XPTD
Qu
m
yết
tì
địn
n
h
h
hìn
d
h
ục
phạ
t
Tị
a
án
nhâ
n
dân
Trá
ch
nhi
ệm
hìn
h
sự
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Danh mục hình
Hình 2.1. Số vụ án và số bị cáo đã thụ lý giải quyết về các tội xâm
phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 – 2020
Hình 2.2. Cơ cấu các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai (giai đoạn 2015 – 2020)
Trang
34
36
Hình 2.3. Kết quả áp dụng hình phạt đối với số bị cáo bị xét xử về các
tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (giai đoạn 2015 –
42
2020)
Danh mục Bảng
Bảng 2.1. Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội xâm phạm
tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (giai đoạn 2015 – 2020)
Trang
40
Bảng 2.2. Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về từng tội cụ thể
trong các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (giai đoạn
40
2015 – 2020)
Bảng 2.3. Thống kê kết quả quyết định hình phạt theo từng tội danh cụ
thể trong các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (giai
đoạn 2015 – 2020)
43
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, tỉ lệ tội phạm xâm phạm tình dục (XPTD) trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai có xu hướng gia tăng, gây tác động xấu cho xã hội và ảnh hưởng rất
lớn đến tâm sinh lý của nạn nhân. Căn cứ Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, các
tội phạm xâm phạm tình dục tội quy định từ Điều 141 đến Điều 147 gồm: Tội hiếp
dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm người từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và tội sử
dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Những tội phạm này đều bị xử lý
với những khung hình phạt khác nhau. Thơng qua hoạt động xét xử, Tịa án sẽ quyết
định hình phạt tương ứng với từng tội phạm và mức độ phân hóa trách nhiệm hình sự
của từng đối tượng vi phạm.
Quyết định hình phạt (QĐHP) là cơng việc trọng tâm, cốt lõi trong hoạt
động xét xử của Tịa án và có vai trị vơ cùng to lớn. Nếu hình phạt được quyết định
một cách chính xác sẽ góp phần tích cực vào cơng cuộc đấu tranh phịng chống tội
phạm, nhưng ngược lại, nếu việc quyết định hình phạt được thực hiện không đúng
sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội, làm giảm sút lòng tin của Nhân
dân đối với các cơ quan tư pháp. Suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự từ
khởi tố, điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên tồ sẽ khơng có nhiều ý
nghĩa nếu Tồ án khơng làm tốt việc quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt
đúng cịn là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng của hoạt động xét xử
cũng như đánh giá năng lực và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân.
Tòa án nhân dân (TAND) hai cấp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã có những
đóng góp tích cực trong việc đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm phạm tình
dục thơng qua hoạt động xét xử và quyết định hình phạt đối với từng vụ án cụ thể.
Mặc dù vậy, hoạt động quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt đối
với các tội xâm phạm tình dục nói riêng của Tịa án nhân dân hai cấp tại tỉnh Đồng
Nai vẫn cịn có những hạn chế, thiếu sót.
Trước tình trạng các tội phạm xâm phạm tình dục vẫn đang diễn biến phức
tạp, gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội
của người dân, việc nghiên cứu một cách khoa học để tìm ra những tồn tại, hạn chế,
phân tích các nguyên nhân và đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả quyết
định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là địi
hỏi mang tính cấp thiết. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quyết định hình phạt đối với
8
các tội xâm phạm tình dục từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” để nghiên cứu trong luận
văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều cơng trình khoa học nghiên
cứu về các đề tài liên quan đến việc quyết định hình phạt được cơng bố như:
- Sách chun khảo “Định tội danh và quyết định hình phạt” của tác giả
Dương Tuyết Miên, nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2007.
- Sách chuyên khảo “Các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Linh, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm
2019.
- Luận văn thạc sĩ luật học “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm
nhiều tội theo luật Hình sự Việt Nam” của Phạm Thị Thanh Hoan năm 2015;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
sở hữu (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng)” của tác giả
Nguyễn Thế Văn, năm 2015;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội tham ơ tài sản trong luật Hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Huyền, năm 2015;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” của tác giả Nguyễn Hữu Biên, năm
2015;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
sở hữu từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Chu Xuân
Quyền, năm 2016;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng
phạm từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” của tác giả Lê Văn Nhàn, năm 2016;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp
luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thùy,
năm 2017.
Về các công trình có liên quan được cơng bố trên các tạp chí khoa học
như:
- Đinh Văn Quế, Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt, Tạp chí Kiểm sát,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 14/2018.
- Đinh Văn Quế, Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và việc áp
9
dụng khi quyết định hình phạt, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số
16/2018.
- Nguyễn Bích Thủy, Một số điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 về
hình phạt và quyết định hình phạt, Tạp chí Nghề luật, Học viện Tư pháp, Số
5/2016.
- Đinh Minh Lượng, “Một số điểm chưa hợp lý trong quy định về quyết
định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng”, Tạp chí
Tịa án nhân dân (điện tử), năm 2020.
- Thiều Văn Thịnh, “Một số lưu ý khi quyết định áp dụng hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt”, Tạp chí Tịa án nhân dân (điện tử), năm 2020.
Những đề tài, cơng trình nghiên cứu nêu trên đã khái quát được một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt. Tuy nhiên, những đề tài, cơng trình
nghiên cứu này hoặc nghiên cứu quyết định hình phạt ở những khía cạnh khác nhau
như: quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) khi quyết định hình phạt; hoặc chỉ nghiên
cứu về quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu, tham ô tài sản, vi
phạm các quy định về sử dụng đất đai,… mà chưa có cơng trình, đề tài nào nghiên
cứu chun sâu về thực tiễn và đề xuất các giảipháp cụ thể nhằm khắc phục những
vi phạm, sai lầm trong việc quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và pháp luật về quyết định hình
phạt đối với các tội xâm phạm tình dục và thực tiễn hoạt động quyết định hình phạt
đối với các tội phạm xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn đề
xuất những giải pháp nhằm góp phần hồn thiện các quy định pháp luật hình sự và
bảo đảm hiệu quả quyết định hình phạt đối với các tội phạm này trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
- Phân tích các khái niệm về hình phạt, quyết định hình phạt và quyết định
hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục; ngun tắc, căn cứ quyết định hình
phạt; vai trị và ý nghĩa của quyết định hình phạt đúng đối với các tội phạm xâm
phạm tình dục.
- Đánh giá thực tiễn hoạt động quyết định hình phạt đối với các tội xâm
10
phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, chỉ ra những điểm mạnh cũng như
những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về các tội
xâm phạm tình dục và lý luận về QĐHP đối với các tội xâm phạm tình dục; những
quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục và thực tiễn quyết định hình phạt đối với các tội phạm này.
Phạm vi nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: Trên trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2015 đến năm 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của
Nhà nước về quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục.
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích diễn dịch, quy nạp, thống kê, tổng hợp được sử dụng
xuyên suốt luận văn để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê, so sánh và nghiên cứu bản án điển hình được sử dụng để
giải quyết, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị giải pháp hoàn thiện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và hoàn
thiện các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu trong Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả
thực hiện công tác xét xử và quyết định hình phạt đúng đối với các tội xâm phạm tình dục
nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cịn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
sinh viên đang học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, cho những người nghiên
cứu cũng như những người làm công tác thực tiễn và tất cả những ai quan tâm đến vấn đề
này.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề chung về quyết định hình phạt đối với các tội xâm
phạm tình dục
Chương 2: Thực tiễn quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục tại
tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng đối với các tội
xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
11
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT
ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC
1.1. Khái niệm hình phạt và quyết định hình phạt
1.1.1. Khái niệm hình phạt
Hình phạt là một trong những khái niệm cơ bản của luật hình sự. Dưới góc
độ lập pháp, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được định nghĩa trong Bộ luật Hình
sự năm 1999 tại Điều 26 như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tịa án quyết định”. Hiện
nay, khái niệm hình phạt đã được BLHS năm 2015 hoàn thiện hơn khi bổ sung chủ
thể của tội phạm là pháp nhân thương mại. Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy
định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được
quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp
nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người,
pháp nhân thương mại đó.”
Xuất phát từ khái niệm trên, có thể thấy hình phạt có những dấu hiệu sau:
- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
Trong các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, hình phạt là biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc nhất. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ hình phạt
tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người hoặc pháp nhân thương mại bị kết
án. Đồng thời, hình phạt cịn để lại cho người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án
một hậu quả pháp lý đó là án tích trong một thời gian nhất định [8, tr.283].
- Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự
Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt ở cả phần chung và các phần các tội
phạm. Phần chung của BLHS quy định các vấn đề mang tính ngun tắc về hình
phạt, trong khi đó, phần các tội phạm quy định các loại hình phạt và mứchình
phạt đối với từng tội phạm cụ thể. Hệ thống hình phạt bao gồm hình phạt chính và
hình phạt bổ sung, được quy định khác nhau đối với người phạm tội và pháp nhân
thương mại phạm tội. Đối với người phạm tội, các hình phạt chính như: Cảnh cáo,
phạt tiền, cải tạo khơng giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình.
Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài
sản; phạt tiền và trục xuất khi khơng áp dụng là hình phạt chính (Điều 32 BLHS
12
năm 2015). Đối với pháp nhân thương mại phạm tội, hình phạt chính gồm: Phạt
tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; Hình phạt bổ
sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;
cấm huy động vốn; phạt tiền khi khơng áp dụng là hình phạt chính (Điều 33 BLHS
năm 2015). Do vậy, trong mọi trường hợp, tòa án khơng được áp dụng một loại
hình phạt nào đó không quy định trong BLHS, cũng như không được áp dụng hình
phạt đối với những hành vi khơng được BLHS quy định là tội phạm.
- Hình phạt do Tịa án quyết định áp dụng
Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định Tòa án
là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt. Ngồi Tịa
án, khơng một cơ quan nào khác có quyền quyết định hình phạt. Tồ án thơng qua
q trình xét xử ra các bản án để xác định hình phạt cụ thể đối với người hoặc pháp
nhân thương mại phạm tội.
- Hình phạt chỉ áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm
tội
Về nguyên tắc, hình phạt chỉ áp dụng đối với người hoặc pháp nhân
thương mại phạm tội. BLHS không cho phép áp dụng hình phạt đối với người thân
của người phạm tội hoặc chấp hành hình phạt thay cho người hoặc pháp nhân
thương mại phạm tội cho dù sự chấp hành thay này là hồn tồn tự nguyện [8,
tr.286].
Như vậy, hình phạt là một hình thức phổ biến nhất của trách nhiệm hình sự,
là phương tiện để đạt được mục đích của trách nhiệm hình sự [13, tr.7] và là cách
thức thể hiện sự xử sự của Nhà nước đối với các hành vi phạm tội. Mục đích của
hình phạt khơng chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội
mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn
ngừa họ phạm tội mới; đồng thời giáo dục những người, pháp nhân thương mại
khác tơn trọng pháp luật, phịng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 31 BLHS
năm 2015).
1.1.2. Khái niệm quyết định hình phạt
Bên cạnh các khái niệm cơ bản của luật hình sự như tội phạm, hình phạt thì
“quyết định hình phạt” cũng được xem là một trong những khái niệm quan trọng,
thể hiện tập trung nhất chính sách hình sự của Nhà nước. Quyết định hình phạt có
căn cứ, đúng pháp luật, cơng bằng khơng chỉ là tiền đề, điều kiện để đạt được mục
đích của hình phạt mà cịn góp phần tích cực vào cơng cuộc phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm. Mặc dù là một khái niệm quan trọng nhưng cho tới nay, khái
13
niệm “quyết định hình phạt” mới chỉ được nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật
hình sự mà chưa được định nghĩa chính thống trong các văn bản pháp luật hình sự.
Tác giả Đinh Văn Quế cho rằng: “Quyết định hình phạt là việc Tịa án lựa
chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình
phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu phải tuân thủ theo những quy định của Bộ luật
hình sự” [21, tr.88].
Tương tự, các tác giả của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra định
nghĩa về quyết định hình phạt như sau: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại
hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức khác nhau)
trong phạm vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự” [8,
tr.315]. Do đó, quyết định hình phạt này chỉ đặt ra đối với các trường hợp cần thiết
phải áp dụng hình phạt đối với chủ thể chịu trách nhiệmhình sự, khơng áp dụng
đối với các trường hợp chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt.
Bên cạnh việc định nghĩa nội dung quyết định hình phạt dưới góc độ luật
hình sự, khái niệm này cịn được giải thích dưới khía cạnh luật tố tụng hình sự. Tác
giả Chu Thị Trang Vân cho rằng: “Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan
trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, là việc Tịa án lựa chọn loại
hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với
cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong các bản
án phạm tội” [39, tr.73]. Có nghĩa là, quyết định hình phạt trong phạm vi luật tố
tụng hình sự được xem là hoạt động của Tòa án trong giai đoạn xét xử.
Như vậy, mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau nhưng khái niệm
quyết định hình phạt vẫn bao hàm nội dung cơ bản là việc lựa chọn loại hình phạt
và mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. Nếu
khung hình phạt quy định nhiều loại hình phạt khác nhau thì quyết định hình phạt là
sự lựa chọn một hình phạt cụ thể trong phạm vi pháp luật cho phép để áp dụng đối
với người phạm tội. Chẳng hạn, trong trường hợp điều luật quy định hình phạt
chính là tù chung thân hoặc tử hình thì quyết định hình phạt lúc này thực chất là
việc lựa chọn một loại hình phạt cụ thể để áp dụng chứ khơng phải chọn mức hình
phạt cụ thể trong khung hình phạt. Ngược lại, nếu chế tài được quy định chỉ có một
loại hình phạt và có các mức khác nhau thì quyết định hình phạt trong trường hợp
này là xác định mức hình phạt trong phạm vi khung hình phạt được quy định. Ví
dụ, khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015 quy định “Người nào dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng khơng thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ
đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn
của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Trong trường hợp một người
14
phạm tội hiếp dâm theo quy định này thì quyết định hình phạt lúc này thực chất là
lựa chọn mức hình phạt cụ thể trong khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm để
áp dụng đối với người đó sao chophù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội.
Quyết định hình phạt bao gồm cả việc quyết định hình phạt chính và quyết
định hình phạt bổ sung, tuy nhiên, nội dung quan trọng trong quyết định hình phạt
của Tịa án vẫn là quyết định hình phạt chính.
Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu nội dung, bản chất quyết định hình phạt và
các quan điểm của các nhà khoa học khác nhau, tác giả luận văn đưa ra khái niệm
về quyết định hình phạt như sau:
“Quyết định hình phạt là hoạt động của Tịa án lựa chọn loại hình phạt và
mức hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung) trong phạm
vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự”.
1.1.3. Khái niệm quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục
Từ những phân tích về khái niệm quyết định hình phạt, có thể khẳng định
rằng giữa hình phạt và quyết định hình phạt ln có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Quyết định hình phạt là nhân tố quan trọng đóng vai trị cầu nối giữa tội phạm và
hình phạt. Việc định tội danh đúng sẽ tạo tiền đề cho quyết định hình phạt đúng và
quyết định hình phạt đúng sẽ tạo cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt.
Hiện nay, trong BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành khơng
đưa ra định nghĩa về các tội xâm phạm tình dục. Tuy nhiên, theo Từ điển tiếng Việt,
xâm phạm là “động chạm đến quyền lợi của người khác” [40, tr.1144], cịn tình dục
là “nhu cầu phát triển tự nhiên của con người có tính giao” [40, tr.996]. Như vậy,
xét về mặt từ vựng, xâm phạm tình dục là hành vi động chạm đến quyền tự do,
quyền phát triển tự nhiên của con người về quan hệ có tính giao. Do đó, “các tội
xâm phạm tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền
bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình
phạt tương xứng” [15, tr.18].
Trong BLHS năm 2015, các tội xâm phạm tình dục được quy định từ Điều
141 đến Điều 147 Chương XIV với 7 tội danh gồm: Tội hiếp dâm, tội hiếp dâm
người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16
tuổi, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và tội sử dụng người
dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. So với BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung
15
năm 2009) thì quy định về các tội xâm phạm tình dục của BLHS năm 2015 đã quy
định thêm 01 tội danh đó là tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm
(Điều 147). Bên cạnh đó, quy định của BLHS năm 2015 cũng có nhiều điểm tiến bộ
hơn khi cụ thể hóa độ tuổi của nạn nhân ngay tại tên điều luật. Đó là việc sửa đổi
tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS 1999) thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
(Điều 142); sửa đổi tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS 1999) thành tội cưỡng
dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144); sửa đổi tội giao cấu với trẻ
em (Điều 115 BLHS 1999) thành tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình
dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); và sửa đổi tội dâm ô
đối với trẻ em (Điều 116 BLHS 1999) thành tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
(Điều 146).
Bên cạnh đó, một điểm đặc thù của các tội xâm phạm tình dục là chủ thể
chịu trách nhiệm hình sự phải là người phạm tội chứ khơng thể là pháp nhân thương
mại phạm tội (Điều 76 BLHS năm 2015).
Căn cứ theo quy định về hệ thống hình phạt trong phần chung và các Điều
141 đến Điều 147 của BLHS năm 2015, hình phạt chính đối với các tội xâm phạm
tình dục chủ yếu là hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt thấp nhất là 6 tháng
tù (Điều 146, 147) và cao nhất lên đến 20 năm tù. Một số tội có tính chất nguy hiểm
cao có thể bị áp dụng hình phạt tù chung thân như tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và thậm chí là chung thân hoặc tử hình như tội
hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Như vậy, đối với các tội xâm phạm tình dục, cảnh
cáo, phạt tiền, và cải tạo khơng giam giữ khơng được quy định làm hình phạt chính
và chỉ có hình phạt tử hình ở duy nhất tội hiếp dâm ngườidưới 16 tuổi. Ngoài ra,
người phạm các tội xâm phạm tình dục cịn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định với thời hạn
từ 01 năm đến 05 năm. Nếu là người nước ngoài phạm tội thì có thể bị áp dụng
hình phạt trục xuất theo Điều 37 BLHS năm 2015.
Như vậy, quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục là hoạt
động của Tịa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể (bao gồm hình
phạt chính và hình phạt bổ sung) trong phạm vi quy định tại các Điều 141 đến Điều
147 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để áp dụng đối với người phạm tội phù hợp với
tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục đúng
Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án được thực hiện sau
khi đã xác định được tội danh để định ra biện pháp xử lý tương xứng với tính chất,
16
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện [18, tr.63]. Vì vậy,
hoạt động quyết định hình phạt có liên quan chặt chẽ với việc định tội danh. Xác
định đúng tội danh đối với các hành vi xâm phạm tình dục là tiền đề căn bản cho
việc quyết định hình phạt đúng. Bởi lẽ, khi định tội danh đúng tức là đã xác định
được loại hình phạt cần áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Cho nên,
quyết định hình phạt đúng không chỉ là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt
mà cịn có ý nghĩa quan trọng trong cơng tác đấu tranh phịng chống các tội phạm
xâm phạm tình dục.
Thứ nhất, quyết định hình phạt đúng là cơ sở để đạt được mục đích của
hình phạt
Điều 31 BLHS năm 2015 quy định: “Hình phạt khơng chỉ nhằm trừng trị
người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp
luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người,
pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống
tội phạm”. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử phảicân nhắc để lựa
chọn được loại hình phạt và mức hình phạt tương xứng vừa bảo đảm mục đích
trừng trị lẫn mục đích giáo dục của hình phạt. Nếu hình phạt được áp dụng chỉ thiên
về mục đích trừng trị có thể làm người phạm tội nảy sinh tâm lý tiêu cực khi chấp
hành, không thực sự nhận thức được lỗi lầm để có thái độ cải tạo. Ngược lại, nếu
hình phạt được áp dụng mang nặng tính giáo dục mà khơng có tính trừng trị thì sẽ
làm cho người phạm tội có thái độ coi thường pháp luật, khơng thể hiện được sự
răn đe, phòng ngừa đối với những người có ý định phạm tội và làm suy giảm niềm
tin của quần chúng nhân dân. Vì thế, Tịa án khơng được đề cao hay coi nhẹ bất kỳ
mục đích nào của hình phạt mà phải đặt trong mối liên hệ tổng quát với các căn cứ
quyết định hình phạt để có thể đưa ra một hình phạt cụ thể, tương xứng với tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Thứ hai, quyết định hình phạt đúng có ý nghĩa tích cực đối với cơng tác đấu
tranh phịng chống tội phạm
Đối với các tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm tình dục nói riêng,
quyết định hình phạt đúng không chỉ là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt
mà cịn tác động tích cực tới cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm. Hai yếu tố
quan trọng nhất để đạt được mục đích của hình phạt là hoạt động lập pháp và hoạt
động áp dụng pháp luật (tức là định tội danh và quyết định hình phạt). Các quy định
của BLHS dù có hồn thiện đến đâu cũng chỉ có ý nghĩa khi các hình phạt trong
thực tế được quyết định đúng và việc Tịa án quyết định hình phạt đúng sẽ là tiền đề
cho việc chấp hành hình phạt. Nếu Tịa án quyết định một hình phạt thỏa đáng, hợp
17
tình, hợp lý đối với người phạm tội thì sẽ có tác dụng giáo dục sâu rộng trong quần
chúng nhân dân, làm cho quần chúng thấy được sự nghiêm minh của pháp luật để
từ đó tự giác tuân thủ pháp luật, tham gia tích cực vào cơng tác đấu tranh phòng
chống tội phạm. Ngược lại, nếu Tòa án quyết định hình phạt khơng đúng, khơng
tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội hoặc không phù
hợp với các tình tiết nhân thân người phạm tội thì sẽ tạo nên dư luận xã hội khơng
tốt, làm giảm niềm tin của quần chúng nhândân đối với các cơ quan bảo vệ pháp
luật, không phát huy được sự tham gia của quần chúng trong cơng tác đấu tranh
phịng, chống tội phạm, đặc biệt là đối với các tội xâm phạm tình dục.
1.3. Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục
Ngành luật hình sự được xây dựng dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất
định. Đây chính là những tư tưởng chủ đạo, xun suốt tồn bộ q trình xây dựng
và áp dụng pháp luật hình sự. Hiện nay, có những quan điểm còn khác nhau về hệ
thống các nguyên tắc của ngành luật hình sự [8, tr.22-23] tuy nhiên, đa số những
quan điểm này đều xác định những nguyên tắc cơ bản của ngành luật hình sự như:
nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc nhân đạo và
ngun tắc phân hóa trách nhiệm hình sự... Việc tuân thủ chặt chẽ những nguyên
tắc trên sẽ giúp cho ngành luật hình sự thực hiện được các chức năng của mình.
Quyết định hình phạt là một hoạt động quan trọng trong quá trình áp dụng
pháp luật hình sự. Do đó, hoạt động quyết định hình phạt nói chung và quyết định
hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục nói riêng địi hỏi Tịa án cũng phải
tn thủ triệt để các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, bao gồm: nguyên tắc pháp
chế, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc phân
hóa trách nhiệm hình sự. Việc tuân thủ các nguyên tắc này khơng chỉ đảm bảo cho
Tịa án thực hiện hoạt động quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục
khơng chỉ cơng minh, đúng pháp luật và đạt được mục đích của hình phạt mà cịn
góp phần nâng cao uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
1.3.1. Nguyên tắc pháp chế
Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của
cả hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và ngành luật hình sự nói riêng. Nội
dung của ngun tắc pháp chế trong luật hình sự thể hiện ở chỗ tất cả những vấn đề
liên quan đến tội phạm và hình phạt đều phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong
văn bản quy phạm pháp luật hình sự; việc xác định tội phạm và hìnhphạt trong áp
dụng pháp luật hình sự cũng phải dựa trên các điều luật cụ thể. Đồng thời, nguyên
tắc pháp chế cũng đòi hỏi tất cả các cơ quan, cá nhân, tổ chức phải tuân thủ nghiêm
18
ngặt các quy định của pháp luật, trên tinh thần thượng tôn pháp luật.
Nguyên tắc pháp chế trong quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục được thể hiện thông qua các nội dung sau:
- Các tội phạm và hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục phải được
quy định trong Bộ luật hình sự.
Có nghĩa là, những hành vi bị coi là tội xâm phạm tình dục phải được quy
định thành các tội danh cụ thể và được mô tả rõ ràng bởi quy phạm pháp luật hình
sự; những hình phạt có thể được áp dụng cho người phạm tội xâm phạm tình dục
cũng phải được quy định bởi quy phạm pháp luật hình sự và phải được xác định
cho từng tội danh được quy định.
Hiện nay, các tội xâm phạm tình dục và các loại hình phạt đối với từng tội
danh cụ thể được quy định từ Điều 141 đến Điều 147 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017). Đây là các tội thuộc danh mục các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Đối với từng tội danh cụ thể trong các tội
xâm phạm tình dục, loại hình phạt, tính chất và mức độ nghiêm khắc của hình phạt
được quy định tùy thuộc vào tính chất, động cơ của người phạm tội; nhân thân
người phạm tội; cũng như mức độ hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Tính chất và mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục được quy định xuất phát từ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
từng tội phạm cụ thể cũng như yêu cầu đấu tranh phòng và chống loại tội phạm đó.
Tội xâm phạm tình dục có tính chất, mức độ nguy hiểm càng nghiêm trọng thì hình
phạt đối với tội phạm đó càng nghiêm khắc. Tất cả những yếu tố trên đã được các
nhà lập pháp xác định và quy định rõ ràng trong các điều luật tương ứng từ Điều
141 đến Điều 147 BLHS năm 2015. Chỉ có BLHS mới có thể quy định về các tội
xâm phạm tình dục và xác định hình phạt đối với ngườiphạm tội xâm phạm tình
dục. Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục, ngun tắc
pháp chế địi hỏi Tịa án trước hết phải căn cứ vào các điều luật cụ thể này.
- Các căn cứ của việc quyết định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội
xâm phạm tình dục phải được quy định thống nhất trong các văn bản quy phạm
pháp luật hình sự.
Nguyên tắc pháp chế trong quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục khơng chỉ địi hỏi hình phạt đã tun đối với người có hành vi phạm tội
phải nằm trong các điều luật tương ứng của BLHS như đã nêu trên mà cịn phải căn
cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Những cơ
sở quyết định hình phạt này đã được quy định cụ thể trong Chương VIII của BLHS
19
năm 2015, bao gồm: căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tái phạm và tái phạm
nguy hiểm. Bên cạnh đó, BLHS hiện hành cũng quy định về quyết định hình phạt
trong những trường hợp cụ thể như: quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng; trong trường hợp phạm nhiều tội; trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; hoặc trong trường hợp đồng phạm;… Đây
chính là những nền tảng pháp lý quan trọng để Tòa án tiến hành hiệu quả hoạt động
quyết định hình phạt đối với các tội phạm nói chung và quyết định hình phạt đối
với các tội xâm phạm tình dục nói riêng.
- Việc quyết định hình phạt đối với những người có hành vi phạm tội về
xâm phạm tình dục phải tuân thủ các quy định của pháp luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục, Tịa án phải
quyết định áp dụng một loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể. Nguyên tắc pháp
chế địi hỏi chỉ được truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về một
trong những tội danh xâm phạm tình dục đã được quy định trong BLHS cũng như
chỉ được quyết định hình phạt trong phạm vi giới hạn được đặt ra. Tòa án khi quyết
định hình phạt khơng có quyền thiết lập hình phạt mới mà phải lựachọn trong
những mức giới hạn của hình phạt đã xác định bởi các điều luật cụ thể của BLHS.
Khi quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục, Hội đồng xét xử phải
căn cứ vào các quy định cụ thể từ Điều 141 đến Điều 147 BLHS năm 2015 để cân
nhắc lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt tương xứng được quy định trong
từng điều khoản cụ thể. Người có hành vi phạm tội bị xét xử về tội danh gì thì hình
phạt áp dụng đối với họ phải theo đúng quy định của tội danh đó. Tịa án khơng
được quyết định hình phạt vượt mức tối đa mà khung hình phạt quy định đối với tội
phạm mà họ xét xử. Tuy nhiên, có những trường hợp nhất định Hội đồng xét xử
được phép quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp
dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn theo quy định tại
Điều 54 BLHS năm 2015.
Một biểu hiện nữa của nguyên tắc pháp chế trong quyết định hình phạt đối
với các tội xâm phạm tình dục là việc quyết định hình phạt chỉ có thể do Tịa án
thực hiện đối với cá nhân người phạm tội và phải được tuyên công khai tại phiên
tịa bằng một bản án. Trong đó, hình phạt được quyết định đối với người phạm tội
phải cụ thể về loại hình phạt và mức hình phạt. Các tình tiết trong vụ án làm căn cứ
cho việc quyết định hình phạt phải được làm sáng tỏ trong bản án, thể hiện ở tính
chính xác của hình phạt được tun và tính hợp lý của việc quyết định hình phạt.
Như vậy, mặc dù BLHS khơng có quy định riêng về nguyên tắc pháp chế
20
trong quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục, tuy nhiên, việc khẳng
định và quy định nguyên tắc pháp chế về hình phạt và quyết định hình phạt trong
BLHS là địi hỏi tất yếu, khách quan đối với hoạt động bảo vệ pháp luật của các cơ
quan có thẩm quyền. Việc tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc này sẽ góp phần bảo đảm
trật tự, kỷ cương và nâng cao đời sống văn hoá pháp lý trong xã hội.
1.3.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc được hiến định tại
Điều 16 Hiến pháp năm 2013. Cụ thể hóa ngun tắc này trong lĩnh vực luậthình
sự, điểm b khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định: “Mọi người phạm tội đều
bình đẳng trước pháp luật, khơng phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tơn giáo,
thành phần, địa vị xã hội”. Ngun tắc bình đẳng khơng chỉ thể hiện trong các quy
định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng mà cịn phải được tuân
thủ trong hoạt động áp dụng pháp luật cũng như hoạt động quyết định hình phạt.
Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước hết là bảo đảm các quy định của ngành
luật hình sự về tội phạm, hình phạt và quyết định hình phạt có giá trị như nhau đối
với tất cả mọi người đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc truy cứu và xử lý hình sự
đối với người phạm tội không bị chi phối bởi các đặc điểm về giới tính, dân tộc, tín
ngưỡng, tơn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Tất cả người phạm tội hoặc pháp nhân
thương mại có hành vi phạm tội đều phải được các cơ quan tiến hành tố tụng đối xử
bình đẳng trong mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật trong việc quyết định hình phạt đối
với các tội xâm phạm tình dục được bảo đảm thực hiện bằng nhiều quy định khác
nhau như quy định về nguyên tắc xử lý tại điểm b khoản 1 Điều 3; chương VI về
hình phạt; chương VIII về quyết định hình phạt; cũng như các hình phạt cụ thể đối
với các tội xâm phạm tình dục từ Điều 141 đến Điều 147 BLHS năm 2015. Khi
quyết định hình phạt đối với người phạm các tội xâm phạm tình dục, Tịa án phải
cân nhắc áp dụng các chế tài hình sự được quy định trong các điều luật cụ thể để áp
dụng đối với người có hành vi phạm tội theo nguyên tắc: không phân biệt đối xử
giữa những người có giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã
hội khác nhau. Khơng để xảy ra tình trạng “dân thì xử nặng, quan thì xử nhẹ”. Tuy
nhiên, cũng cần lưu ý sự khác biệt giữa tuân thủ nguyên tắc này với việc áp dụng
các đặc điểm về nhân thân người phạm tội đã được xác định là dấu hiệu định khung
hình phạt hoặc dấu hiệu tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động quyết định hình phạt
đối với các tội xâm phạm tình dục hoàn toàn phù hợp với tư tưởng pháp lýtiến bộ
21
về sự công bằng trong việc xử lý người phạm tội. Đồng thời, bảo đảm nguyên tắc
này trong quyết định hình phạt cũng chính là góp phần đảm bảo quyền con người,
quyền cơng dân trong pháp luật hình sự.
1.3.3. Ngun tắc nhân đạo
Nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc được thể hiện xuyên suốt các điều luật
khác nhau của BLHS. Điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 đã khẳng định
chính sách: “Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố
giác đồng phạm, lập cơng chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm
trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải,
tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”. Các quy định về hình phạt
cũng thể hiện rõ mục đích của hình phạt khơng chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục
người phạm tội ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa
họ phạm tội mới; giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và
đấu tranh chống tội phạm (Điều 31 BLHS). Đồng thời, nguyên tắc nhân đạo còn
được thể hiện trong những điều luật quy định về quyết định hình phạt, về trách
nhiệm hình sự của người chưa đủ 18 tuổi phạm tội, về miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện (án treo).
Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt địi hỏi Tịa án phải xuất
phát từ tư tưởng nhân đạo và chính sách khoan hồng khi áp dụng các quy định của
luật hình sự. Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt thể hiện thơng qua
việc Tòa án dựa trên các căn cứ quyết định hình phạt để đưa ra hình phạt ở mức cần
thiết sao cho vừa bảo đảm mục đích của hình phạt vừa góp phần tích cực vào cơng
cuộc phịng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Việc xử lý, truy cứu TNHS, áp dụng
hình phạt hoặc áp dụng hình phạt nặng không phải là biện pháp duy nhất trong xử
lý tội phạm.
Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
tình dục địi hỏi những người có thẩm quyền khi quyết định hình phạt phải ln đặt
mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội lên hàng đầu; cân nhắc những tình tiết
tốt về nhân thân của người phạm tội; và xem xét các đặc điểm tâm sinh lýcũng như
hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội để quyết định hình phạt cho phù hợp. Tuy
nhiên, điều này khơng đồng nghĩa với việc Tịa án có thể quyết định hình phạt một
cách tùy tiện mà bỏ qua các quy định chung của BLHS về hình phạt và quyết định
hình phạt. Việc áp dụng nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt đối với các
tội xâm phạm tình dục vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của BLHS.
Chẳng hạn, khi một người thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
22
theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 142 BLHS năm 2015 “hiếp dâm người dưới
10 tuổi” thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, nếu người
phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ thì đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều
54 BLHS: “Tịa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều
luật”. Tức là, Tịa án có thể áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định một
hình phạt cho bị cáo dưới mức 20 năm tù nhưng phải nằm trong mức từ 12 năm đến
20 năm (khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật) chứ trong trường hợp này
khơng thể vì mục đích nhân đạo mà áp dụng cho bị cáo hình phạt dưới mức 12 năm
tù hoặc một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
Trong một số trường hợp như người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc người có hành vi phạm tội xâm phạm tình dục là
người chưa đủ 18 tuổi... thì khi quyết định hình phạt Tịa án cũng cần phải xem xét
áp dụng các điều luật mang tính nhân đạo phù hợp đối với họ. Điển hình như: quy
định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
(Điều 57); quy định về các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
(Điều 91)… Việc áp dụng tổng thể các quy định này khi quyết định hình phạt đối
với các tội xâm phạm tình dục khơng chỉ bảo đảm ngun tắc nhân đạo mà cịn góp
phần hiện thực hóa ngun tắc pháp chế của ngành luật hình sự.
1.3.4. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Ngun tắc cá thể hóa hình phạt cịn được gọi là ngun tắc phân hóa trách
nhiệm hình sự. Nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản được thể hiện cả trong xây
dựng và áp dụng pháp luật hình sự. Việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật là
cơ sở pháp lý cho việc cá thể hóa hình phạt khi áp dụng.
Trong BLHS, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt được thể hiện thơng qua việc
phân chia tội phạm thành các nhóm tội khác nhau với hệ thống hình phạt đa dạng;
chế tài của mỗi tội phạm cũng được phân hóa thành nhiều khung hình phạt khác
nhau. Chẳng hạn, bên cạnh những quy định về nguyên tắc nhân đạo như đã phân
tích tại mục 1.2.3, BLHS cũng có những quy định mang tính ngun tắc về chính
sách nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn
đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; hoặc người
phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chun nghiệp, cố ý gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (điểm c, d khoản 1 Điều 3 BLHS). Những quy định
cụ thể này đã tạo điều kiện tối ưu cho việc cá thể hóa hình phạt.
Trong thực tiễn xét xử, ngun tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi Tòa án khi
23
quyết định hình phạt phải dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi tội phạm, các đặc điểm nhân thân người phạm tội và những tình tiết giảm
nhẹ, tăng năng TNHS để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể sao cho
đạt được các mục đích của hình phạt và tạo điều kiện phát huy hiệu quả của luật
hình sự.
Đối với các tội xâm phạm tình dục, sự phân hóa trách nhiệm hình sự khơng
chỉ thể hiện ở dấu hiệu định khung hình phạt của từng tội phạm dựa trên tính chất,
mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các đặc điểm nhân thân người phạm tội
mà còn được cụ thể hóa thơng qua các quy định về tình tiết giảm nhẹ và tình tiết
tăng nặng. So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 đã có những điểm tiến bộ
vượt bậc hơn trong việc thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với các tội
xâm phạm tình dục. Cụ thể như việc cụ thể hóa ở mức tối đa các tình tiết định
khung của từng tội phạm, ví dụ: Gây rối loạn tâm thần và hànhvi của nạn nhân…
từ 31% đến 60% (Điều 142, Điều 144, Điều 146); Đối với người dưới 10 tuổi (Điều
142); Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa
bệnh (Điều 145);… Ngoài ra, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cịn cụ
thể hóa và chi tiết hơn những tình tiết định khung tăng nặng như phạm tội nhiều
người thành phạm tội đối với 02 người trở lên, phạm tội nhiều lần thành phạm tội
02 lần trở lên [15, tr.178].
Như vậy, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt được thể hiện trong luật là cơ sở,
điều kiện để Tịa án xem xét quyết định hình phạt đối với từng trường hợp người
phạm tội cụ thể trên thực tế. Tuy nhiên, những quy định này không thể nào hàm
chứa hết các tình tiết, hồn cảnh đa dạng của từng tội phạm cụ thể cũng như những
đặc điểm nhân thân từng người phạm tội cụ thể. Do vậy, khi quyết định hình phạt,
bên cạnh việc tuân thủ các quy định chung, Tòa án còn cân nhắc đến các đặc điểm
cụ thể khác của tội phạm và người phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ có
trong vụ án để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể sao cho đạt được
các mục đích của hình phạt. Nói cách khác, trách nhiệm hình sự càng được phân
hóa rõ ràng trong luật thì càng có cơ sở cho việc cá thể hóa hình phạt trong thực
tiễn áp dụng.
1.4. Các căn cứ quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự tồn tại những cách hiểu khác nhau về
căn cứ quyết định hình phạt. Ở phạm vi rộng, tác giả Đinh Văn Quế cho rằng “căn
cứ quyết định hình phạt là những yêu cầu cơ bản (là chỗ dựa) buộc Tòa án phải
tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội” [21]. Tác giả Dương
24
Tuyết Miên có cách giải thích khác hơn khi cho rằng “các căn cứ quyết định hình
phạt là những cơ sở pháp lý được quy định trong Bộ luật hình sự mà Tòa án buộc
phải tuân thủ khi quyết định hình phạt cho người phạm tội nhằm đảm bảo hình
phạt đã tun đạt được mục đích của hình phạt” [18, tr.120]. Một quan điểm khác
lại đưa ra định nghĩa về căn cứ quyết định hình phạt theo hướng “các căn cứ quyết
định hình phạt là những địi hỏi cơ bản có tính ngun tắc do
25