Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

Thực trạng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm gần đây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (112.79 KB, 19 trang )

BÀI THẢO LUẬN
Mơn học: Tín dụng ngân hàng
Giảng viên hướng dẫn:
NHÓM 04 – LỚP 02

, ngày tháng năm 2021

CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:


Câu hỏi thảo luận: Thực trạng cấp tín dụng cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm gần đây?

I, Đặt vấn đề
Quan điểm cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là động l ực
quan trọng của tăng trưởng và phát triển kinh tế đã nhận được s ự đồng
thuận lớn trên thế giới và tại Việt Nam. Khu vực này được xem là nguồn
tạo ra việc làm, thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới, đồng th ời giúp xóa đói
giảm nghèo và giảm bất bình đẳng về thu nhập do các DNNVV hoạt đ ộng
phân bổ ở hầu hết các vùng địa lý và lĩnh vực kinh tế khác nhau.
Trong những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển ấn
tượng của các DNNVV. Cả nước hiện có hơn 500.000 DNNVV, chiếm
khoảng 97% số doanh nghiệp đang hoạt động, hàng năm tạo ra gần 60%
việc làm, 44,8% doanh thu, đóng góp khoảng 40% GDP và 29,3% cho ngân
sách nhà nước. Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn gặp khơng ít khó khăn đ ể
tiếp tục duy trì và phát triển. Một trong những trở ngại được nh ắc đến


nhiều nhất là khả năng tiếp cận vốn vay từ nguồn chính th ức của đ ối
tượng này.
Hiểu được tầm quan trọng của việc tiếp cận tín dụng đối với s ự tồn


tại và phát triển của DNNVV, Chính phủ và Ngân hàng Nhà n ước rất quan
tâm và có nhiều chính sách hỗ trợ cho đối tượng này.
Mặc dù đã có những thành quả nhất định, các DNNVV vẫn được
đánh giá chung là khó tiếp cận với vốn vay ngân hàng.
II, Nội dung
1. Vị thế, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
*) Vị thế
Ở những nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau vai trò của
doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện ở các mức độ khác nhau. Nh ưng
thực tế cho thấy tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng
lớn khi mà phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng th ể hiện thông qua s ố
lượng doanh nghiệp, hoạt động có mặt ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực và
tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế
mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao.
Ở nước ta hiện nay có khoảng trên 93% trong tổng số doanh nghiệp hiện
có là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cụ thể là 80% các doanh nghiệp nhà n ước
thuộc nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khu vực kinh tế t ư nhân
doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng 97% xét về vốn và 99% xét về lao
động so với tổng số doanh nghiệp của cả nước.
*) Vai trò doanh nghiệp vừa và nhỏ


Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế
mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao. Trong xu th ế h ội nh ập
và tồn cầu hóa như hiện nay thì các nước đều chú ý hỗ trợ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nhằm huy động tối đa các nguồn lực và h ỗ tr ợ cho DN
lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Đối với Việt Nam thì vị trí doanh nghiệp vừa và nhỏ lại càng quan
trọng. Điều này thể hiện rõ nét nhất trong những năm gần đây. Cụ th ể;

a) Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh
nghiệp
Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay doanh
nghiệp vừa và nhỏ có sức lan tỏa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh t ế xã hội.
Theo tiêu chí mới thì doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 93% tổng số các
doanh nghiệp thuộc các hình thức:
Doanh nghiệp Nhà nước, DNTN, Công ty Cổ phần, doanh nghiệp có vốn
đầu tư Nước ngồi. Có thể nhận định rằng hầu hết các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
b) Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi tạo ra việc làm ch ủ yếu ở Việt Nam
Thực tế trong những năm qua, đã cho thấy toàn bộ các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, đặc biệt là phần lớn các doanh nghiệp thuộc khu v ực ngồi
quốc doanh là nguồn chủ yếu tạo ra cơng ăn việc làm cho tất c ả các lĩnh
vực.
Cụ thể từ số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy: Các doanh nghi ệp
vừa và nhỏ tuyển dụng gần 1 triệu lao động chiếm 49% l ực lượng lao
động trên phạm vi cả nước; Ở các tỉnh duyên hải miền Trung số lao đ ộng


làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ so với số lao động trong tất cả
các lĩnh vực chiếm cao nhất trong cả nước (67%); Đơng Nam Bộ có tỷ l ệ
thấp nhất (44%) so với mức trung bình của cả nước.
Qua đó, chúng ta có thể thấy các doanh nghiệp v ừa và nhỏ có vai trị
rất quan trọng trong việc tạo ra phần lớn các công việc ở Việt Nam, đáp
ứng nhu cầu việc làm của người dân, góp phần tạo ra thu nhập và nâng cao
mức sống cho người dân.
c) Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động
Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp ph ụ
thuộc rất nhiều vào những nhà sàng lập ra chúng.
Do đặc thù là số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn và th ường

xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường xung quanh, phản ứng
với những tác động bất lợi do sự phát triển, xu hướng tích tụ và t ập trung
hóa sản xuất. Sự sáp nhập, giải thể và xuất hiện các doanh nghiệp v ừa và
nhỏ thường xuyên diễn ra trong mọi giai đoạn. Đó là sức ép lớn buộc
những người quản lý và sáng lập ra chúng phải có tính linh hoạt cao trong
quản lý và điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự m ạo hiểm.
Chính sự có mặt của đội ngũ những người quản lý này cùng v ới kh ả
năng, trình độ, nhận thức của họ về tình hình th ị tr ường và kh ả năng n ắm
bắt cơ hội kinh doanh sẽ tác động lớn đến hoạt động của từng doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Họ luôn là những người đi đầu trong đổi m ới, tìm ki ếm
phương thức mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi cho phù h ợp v ới môi tr ường
kinh doanh.
2. Thực trạng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nh ỏ và v ừa trong
những năm gần đây


Kinh nghiệm của các nước phát triển và Việt Nam trong th ời kỳ hội
nhập cho thấy, vai trò của DNNVV ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế là vô
cùng quan trọng.
Tuy nhiên, thời gian qua, ở Việt Nam, hoạt động của các DNNVV còn
nhiều hạn chế, do đại dịch Covid-19, cộng đồng DNNVV gặp r ất nhiều khó
khăn, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản. Theo số liệu m ới
nhất Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố, năm 2020, số lượng doanh
nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng gần 10% so với cùng kỳ năm 2019.
Một trong những nguyên nhân chính là do nguồn vốn cho đầu tư phát tri ển
chưa đáp ứng đủ và kịp thời cho hoạt động kinh doanh. Theo đó, nâng cao
khả năng tiếp cận nguồn vốn thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng đ ối
với DNNVV ln là mối quan tâm hàng đầu của Chính ph ủ, các bộ, ngành,
DNNVV, cũng như các nhà quản trị ngân hàng thương mại (NHTM) tại Vi ệt
Nam.

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của khu v ực DNNVV, th ời
gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nh ằm h ỗ tr ợ cho
DNNVV phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là vấn đề tiếp cận ngu ồn
vốn tín dụng.
Ngày 16/05/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP
về hỗ trợ và phát triển DN với mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam có ít nhất
1 triệu DN hoạt động. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành nhi ều gi ải pháp
nhằm hỗ trợ và phát triển DN, nhất là DNNVV, trong đó có nh ững gi ải pháp
hỗ trợ về tiếp cận tín dụng.
Ngày 12/06/2017, Luật Hỗ trợ DNNVV đã được Quốc hội thông qua,
tạo khuôn khổ pháp lý hỗ trợ hoạt động của DNNVV.


Theo đó, 3 nhóm đối tượng gồm: DNNVV chuy ển đổi t ừ hộ kinh
doanh, DNNVV khởi nghiệp sáng tạo và DNNVV tham gia c ụm liên k ết
ngành, chuỗi giá trị sẽ được hỗ trợ theo các hình th ức sau: (1) H ỗ tr ợ tiếp
cận tín dụng; (2) Hỗ trợ thuế, kế toán; (3) Hỗ trợ mặt bằng sản xuất; (4)
Hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc
chung; (5) Hỗ trợ mở rộng thị trường; (6) Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp
lý; (7) Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực.
Ngày 08/03/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2018/NĐ-CP
về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín d ụng cho
DNNVV nhằm cấp bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV vay vốn tại các t ổ
chức cho vay theo quy định.
Đặc biệt, bám sát chỉ đạo và định hướng của Chính phủ, Ngân hàng
Nhà nước (NHNN) đã triển khai một loạt giải pháp nhằm tạo điều kiện
cho DNNVV tiếp cận vốn ngân hàng phát triển và mở r ộng sản xuất, kinh
doanh như:
(i) Quy định trần lãi suất đối với các lĩnh vực ưu tiên phát triển, trong đó có
DNNVV được hưởng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND th ấp h ơn

1%-2%/năm so với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thông th ường (theo
Quyết định số 1425/QĐ-NHNN ngày 07/7/2017 và Thông t ư số
39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN);
(ii) Ban hành các chương trình tín dụng đặc thù đối v ới một số ngành/lĩnh
vực như: Cho vay phát triển sản xuất nơng nghiệp theo mơ hình liên k ết,
nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (theo Quy ết đ ịnh
số 813/QĐ-NHNN ngày 24/4/2017 của NHNN và Nghị quyết số 30/NQ-CP
ngày 07/3/2017 của Chính phủ); Cho vay trên cơ s ở bảo lãnh các t ổ ch ức
bảo lãnh cho các DNNVV sản xuất các sản phẩm công nghiệp h ỗ trợ ưu


tiên phát triển (Thông tư số 01/2016/TT-NHNN ngày 04/02/2016 của
NHNN).
Cùng với đó, NHTM đã yêu cầu các TCTD đa dạng hóa các ch ương
trình sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đơn giản hóa th ủ tục vay vốn, chuẩn
hóa quy trình thu thập khai thác thơng tin khách hàng, qua đó nâng cao
hiệu quả thẩm định, đánh giá tín nhiệm và tăng cường cho vay khơng có tài
sản đảm bảo, triển khai các chương trình kết nối ngân hàng – DN nh ằm
tháo gỡ khó khăn của DNNVV trong quan hệ tín dụng với ngân hàng.

*) Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng đối với DNNVV tại Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của các DNNVV
là một tất yếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác
trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, các doanh nghiệp này
cũng sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu h ụt
vốn và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
đầu tư cho các DNNVV đóng vai trị rất quan trọng, không nh ững thúc đẩy
sự phát triển khu vực kinh tế, qua đó tác động trở lại thúc đẩy h ệ th ống
ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ, hồn thiện các c ơ ch ế, chính sách v ề
tín dụng, thanh tốn, ngoại hối… Bởi lẽ, tín dụng ngân hàng góp phần đ ảm

bảo cho hoạt động của các DNNVV được liên tục; nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn; góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu và góp phần tập trung
vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNNVV.
Hiện nay, các dịch vụ của ngân hàng đã tiếp cận được với các doanh
nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng. Các ngân hàng đang n ỗ l ực kích
cầu thị trường thơng qua các chương trình ưu đãi lãi suất, tiện ích mi ễn


phí hoặc miễn giảm dịch vụ… hướng tới doanh nghiệp, nhất là DNNVV.
Điều này sẽ tiếp thêm nhiều nguồn vốn giá rẻ trong bối cảnh sản xuất kinh doanh đang hết sức khó khăn như hiện nay. Các DNNVV v ới đại đa s ố
là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cùng với đặc thù quy mơ nh ỏ, ít tài
sản bảo đảm, phân tán và kéo theo đó là hàng loạt các đặc điểm về qu ản lý
doanh nghiệp cũng đã tạo nên các đặc trưng trong việc tiếp cận ngu ồn
vốn tín dụng ngân hàng.
Xác định tiềm năng phát triển từ DNNVV, nhiều năm nay Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đã đẩy mạnh
cho vay các DNNVV. Dư nợ DNNVV tăng dần qua các năm, m ức tăng tr ưởng
trung bình 5 năm vừa qua là 4,36%/năm.
Agribank là một trong những ngân hàng đầu tiên đưa ra ch ương trình
hỗ trợ vốn cho DNNVV, tạo được sự chú ý khi dành các mức lãi suất th ấp
hơn nhiều so với mức lãi suất cho vay thông thường. Agribank triển khai
lãi suất cho vay theo mặt bằng mà Chính phủ, NHNN chỉ đạo đối với 5 lĩnh
vực ưu tiên, trong đó có DNNVV với mức lãi suất cho vay ngắn h ạn t ối đa
4,5%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn 7,5%/năm, thấp hơn rất nhiều
so với lãi suất cho vay thông thường để tạo cơ hội cho khách hàng có th ể
mở rộng đầu tư theo chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh. Khơng ch ỉ
ưu đãi lãi suất, Agribank cịn chủ trương áp dụng cơ chế, điều kiện thơng
thống để thu hút khách hàng mới tiềm năng, giúp DNNVV tiếp cận v ốn
vay ngân hàng được dễ dàng, thuận tiện. Đồng thời, Agribank tích c ực tri ển
khai kết nối ngân hàng - DNNVV. Đây là kênh tiếp cận v ốn nhanh, hi ệu qu ả

góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh. Ngoài ra, khi s ử
dụng các chương trình này của Agribank, DNNVV cịn được miễn, gi ảm phí
và giá các sản phẩm bán chéo như: phí thanh tốn, phí bảo hi ểm, phí m ở tài


khoản tiền gửi thanh tốn, phí phát hành thẻ ATM, Internet Banking…
Chính vì vậy, nhiều chương trình đã thực sự tạo ra nh ững cú hích l ớn góp
phần vào tăng trưởng kinh tế đối với DNNVV.
Không chỉ riêng Agribank, nhiều định chế tài chính khác như
VietinBank, Vietcombank, BIDV, MB, VPBank, TPBank… cũng đã tri ển khai
nhiều chương trình ưu đãi tín dụng cho DNNVV. Lãi suất cho vay theo đó đã
được kéo xuống mức thấp nhất trong vịng vài năm trở lại đây, vượt qua kỳ
vọng của nhiều doanh nghiệp và chuyên gia. VPBank cũng đã giảm m ạnh
lãi suất cho vay so với biểu lãi suất hiện hành, trong đó, m ức gi ảm cao
nhất cho DNNVV lên tới 2%/năm. Bên cạnh đó, để tìm kiếm các gi ải pháp
tài chính an tồn cho cả ngân hàng và DNNVV, VPBank cũng triển khai đ ồng
bộ nhiều chương trình hỗ trợ khách hàng khác nhau, từ miễn, giảm phí, h ạ
lãi suất, đưa các sản phẩm dịch vụ tích hợp nhằm tiết kiệm chi phí, th ời
gian cho doanh nghiệp, hay tăng cường tư vấn tài chính cho các d ự án kinh
doanh…
Để hỗ trợ doanh nghiệp, Agribank có một bộ phận riêng nhằm hỗ
trợ tối đa cho DNNVV trong quá trình vay vốn tại ngân hàng. Bộ ph ận này
có nhiệm vụ cập nhật, cung cấp đầy đủ các thơng tin tin c ậy v ề tài chính
ngân hàng, các thông tin liên quan đến lĩnh v ực hoạt động s ản xu ất - kinh
doanh của các DNNVV qua một số kênh như: Tư vấn trực tiếp qua cán bộ
quan hệ khách hàng; thông qua các hội nghị, hội thảo về giải pháp tín d ụng
dành cho DNNVV.
Một trong những biện pháp nữa giúp DNNVV tiếp cận nguồn vốn là việc
đưa Quỹ Phát triển DNNVV vào hoạt động một cách mạnh mẽ. Quỹ tập
trung vào các DNNVV có tiềm năng phát triển, có dự án, ph ương án kinh

doanh khả thi và DNNVV nằm trong diện đối tượng ưu tiên nh ư doanh


nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp chế biến nông sản, doanh nghiệp xuất
khẩu... Quỹ này cho DNNVV vay vốn với lãi suất ưu đãi so v ới th ị tr ường, lãi
suất sẽ được tính theo lãi suất trung bình của các NHTM lớn. Th ủ t ướng
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày
08/3/2018 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín
dụng cho DNNVV. Theo đó, các địa phương thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng
để cấp bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV, bảo đảm nguồn vốn vay hỗ tr ợ
DNNVV sản xuất, kinh doanh. Thủ tướng đã giao nhiệm vụ bảo lãnh tín
dụng cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Ðây là những giải pháp thi ết
thực, tạo điều kiện cho DNNVV phát triển.
Một số chi nhánh NHTM đã phối hợp, hợp tác với các định chế tài
chính khác trên cùng địa bàn góp vốn cho Quỹ bảo lãnh tín d ụng DNNVV đ ể
tạo thuận lợi DNNVV tiếp cận vốn. Theo đó, các ngân hàng phối h ợp chặt
chẽ với Quỹ bảo lãnh tín dụng để tạo điều kiện cho các DNNVV trên đ ịa
bàn tiếp cận nguồn vốn vay thơng qua bảo lãnh tín dụng của Quỹ, rút ngắn
thời gian thẩm định và xem xét cho vay, giảm khối lượng công việc trong
khâu thẩm định đối với các hồ sơ vay vốn.
Bên cạnh đó, Chính phủ đã có những giải pháp hỗ trợ cho DNNVV
như triển khai những chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho các DNNVV,
bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ tín dụng... nhất là việc tạo điều kiện cho DNNVV
tham gia vào các dự án của Chính phủ. Các chính sách này nhìn chung đã
bao quát mọi hoạt động của doanh nghiệp, DNNVV phải biết nắm bắt c ơ
hội, tự xây dựng kế hoạch kinh doanh và nâng cao năng lực quản tr ị đ ể có
thể tiếp nhận được những điều kiện tốt và phù hợp với mình.


Tuy nhiên, chỉ có một số DNNVV tiếp cận được với chính sách này.

Phần lớn các DNNVV cịn lại đều gặp trở ngại vì ch ưa đáp ứng đ ầy đủ các
điều kiện, thủ tục vay vốn của ngân hàng (tài sản đảm bảo, tỷ lệ vốn t ự có,
chứng minh khả năng tài chính, kế hoạch quản lý dịng tiền…). Vì th ế, th ời
gian qua đã có hàng chục nghìn DNNVV phải tạm ngừng hoạt đ ộng hoặc
giải thể do khơng đủ nguồn lực tài chính để tiếp tục th ực hiện kế hoạch
hoạt động kinh doanh. Thực trạng tình hình hoạt động của các DNNVV nh ư
trên là do một số nguyên nhân sau:
- Một là, hạn chế trong tiếp cận thơng tin, trình độ nhân lực, quản tr ị d ẫn
tới kỹ năng hoạch định, xây dựng phương án sản xuất - kinh doanh c ủa các
DNNVV thiếu tính khả thi và chưa có kế hoạch ứng phó với biến động c ủa
giá cả, thị trường… Tài sản bảo đảm của các DNNVV cũng ch ưa đáp ứng
được các yêu cầu của tổ chức tín dụng (TCTD) như tính pháp lý c ủa tài s ản
chưa rõ ràng, tài sản không khả mại, giá trị bảo đảm th ấp…
- Hai là, doanh nghiệp quy mô nhỏ với nguồn lực tài chính cịn hạn ch ế,
chưa đủ bảo đảm tài chính dự phịng trong kế hoạch năm, kế hoạch dự tr ữ
nguyên vật liệu cho sản xuất khơng khả thi, vì vậy, ch ưa th ực s ự ch ủ đ ộng
đàm phán được các mức chiết khấu như các đối tượng mua số lượng lớn.
Việc lựa chọn nguyên vật liệu đầu vào có chất lượng cũng gặp phải nh ững
khó khăn nhất định, dẫn đến chất lượng của sản phẩm đầu ra không ổn
định.
- Ba là, hệ thống báo cáo tài chính chưa được các DNNVV th ực sự quan tâm
nên số liệu phản ánh chưa chính xác, chưa được kiểm tốn theo quy định.
Vì thế, các TCTD thiếu thơng tin khi phân tích, đánh giá và thẩm đ ịnh đ ề
nghị xin vay của DNNVV, ảnh hưởng đến việc đưa ra các quyết định cho vay


cũng như chất lượng khoản vay. Hiện nay, 65,2% DNNVV trong diện điều
tra có nhu cầu vay vốn của ngân hàng, tỷ lệ này năm 2019 là 57,3% nh ưng
mới chỉ có 30% DNNVV tiếp cận được vốn từ ngân hàng, cịn lại phải s ử
dụng vốn tự có hoặc vay từ các nguồn khác với chi phí v ốn cao.

- Bốn là, do nợ xấu gia tăng và năng lực cạnh tranh của DNNVV còn yếu
kém; báo cáo tài chính thiếu minh bạch, khơng có nhiều tài sản bảo đảm
tốt nên các NHTM phòng ngừa rủi ro, xem xét chặt chẽ và kỹ l ưỡng h ơn r ất
nhiều đối với những khoản cấp tín dụng mới; ngân hàng chưa mạnh dạn
tăng trưởng tín dụng với đồng loạt các DNNVV mà chỉ tập trung v ới m ột s ố
doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tốt. Hơn n ữa, bản thân các TCTD
cũng gặp khó khăn trong việc cân đối nguồn vốn tr ước khó khăn chung c ủa
nền kinh tế, nguồn vốn huy động chủ yếu là nguồn vốn ngắn h ạn nh ưng
nhu cầu vay vốn trung, dài hạn của các DNNVV là rất lớn. Đây cũng là m ột
trong những lý do dẫn đến việc các NHTM thắt chặt các điều kiện vay vốn.
3. Giải pháp và kiến nghị nâng cao tiếp cận vốn tín d ụng ngân
hàng đối với DNNVV để phát triển sản xuất - kinh doanh th ời
gian tới
Với điều kiện của nền kinh tế nước ta, DNNVV giữ vị trí đặc bi ệt quan
trọng trong việc đóng góp vào mức tăng trưởng GDP, đáp ứng nhu c ầu vi ệc
làm và các vấn đề xã hội khác. Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp l ớn,
DNNVV có nhiều đặc điểm khác biệt và đặc điểm này có ảnh hưởng khơng
nhỏ đến khả năng tiếp cận vốn của DNNVV. Trong thời gian tới, đ ể các
DNNVV tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng dễ dàng h ơn, m ột số gi ải
pháp và kiến nghị được đưa ra như sau:


*)Đối với NHTM
- Thứ nhất,nâng cao năng lực của các ngân hàng như năng lực tài chính,
năng lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công ngh ệ ngân
hàng tiên tiến.
Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ tiên tiến bao gồm cả
công nghệ quản lý cũng như hạ tầng cơ sở cung cấp dịch vụ là hai yếu tố
nền tảng trong việc nâng cao năng lực quản lý của các NHTM Việt Nam.
Hiện nay, một số ngân hàng như ACB, Techcombank… lựa chọn cách th ức

hợp tác với các ngân hàng nước ngoài (các ngân hàng n ước ngoài tr ở thành
nhà đầu tư chiến lược tại các ngân hàng) để nâng cao năng lực tồn diện
của ngân hàng mình.
- Thứ hai, huy động và đáp ứng đủ nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn, m ở
rộng tín dụng cho DNNVV. Huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm, quy ết
định đến việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh. Có tăng tr ưởng
nguồn vốn ổn định thì mới được tăng trưởng tín dụng. Chú trọng huy động
nguồn vốn ổn định từ dân cư và các tổ chức kinh tế. Để đáp ứng được nhu
cầu vốn kinh doanh, các NHTM cần đề cao việc đa dạng các hình th ức huy
động vốn, trong đó cung cấp kịp thời các sản phẩm tiền gửi cho khách
hàng với các hình thức đa dạng, phong phú, nhất là các loại s ản ph ẩm huy
động vốn (đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn) trên nền tảng công
nghệ hiện đại và mang nhiều tiện ích cho khách hàng. Cần căn c ứ t ừng đ ối
tượng khách hàng, từng địa phương mà thiết kế danh mục các hình th ức
huy động khác nhau cho phù hợp; tăng cường hợp tác, kết n ối thanh toán
với các tổ chức, doanh nghiệp lớn; tăng cường huy động vốn t ại các đô th ị,


thành phố để chuyển tải về nông thôn, đảm bảo các yêu cầu v ốn để ph ục
vụ DNNVV thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau…
- Thứ ba, rút ngắn thời gian thẩm định tín dụng và đơn giản hóa thủ tục
vay vốn cho các DNNVV. Mặt khác, các ngân hàng cần tiếp tục hồn thiện
quy trình vay vốn của mình để có sức hấp dẫn DNNVV tiềm năng.
- Thứ tư, các NHTM cần tăng cường vai trò tư vấn cho DNNVV.
Tăng cường vai trò tư vấn cho khách hàng về các cách tiếp cận dịch vụ,
tiện ích của ngân hàng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Khả năng
có thể thực hiện cung cấp vốn vay một cách hiệu quả phụ thuộc r ất l ớn
vào quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Để đảm bảo an toàn và hiệu
quả đối với khoản vay, ngân hàng nên thường xun theo dõi, đánh giá tình
hình tài chính cũng như các hoạt động của khách hàng. Điều quan tr ọng là

ngân hàng đóng vai trị tư vấn về quản lý tài chính, l ập h ồ s ơ và l ập d ự án
vay vốn ngân hàng để khách hàng dễ tiếp cận được vốn vay ngân hàng, s ử
dụng vốn vay hiệu quả, đó cũng là cách tốt nhất đảm bảo người vay trả n ợ
đúng hạn. Nếu làm tốt điều này, khơng những uy tín của ngân hàng nâng
lên, mà ngân hàng còn trở thành người bạn đồng hành đáng tin c ậy c ủa
khách hàng. Trong quan hệ vay vốn, việc tạo lập được quan hệ lâu dài, trên
tinh thần tương hỗ lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng có ý nghĩa h ết
sức quan trọng đối với cả hai phía, vừa thúc đẩy mở rộng cho vay m ột cách
hiệu quả của ngân hàng, vừa đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn cho DNNVV.
- Thứ năm, xây dựng mục tiêu tín dụng và chính sách lãi suất đối v ới
DNNVV. Hồn thiện quy trình thẩm định tín dụng chặt chẽ và đảm bảo
thực hiện đúng quy trình trước khi giải ngân. Đồng thời, giám sát tình hình


sử dụng vốn vay của DNNVV sau khi giải ngân.
*) Đối với DNNVV
Một là, để nắm bắt thời cơ, DNNVV phải tự xây dựng kế hoạch kinh doanh
để có thể tiếp nhận được những điều kiện tốt và phù hợp, tăng năng lực
cạnh tranh của DNNVV. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, bên c ạnh các
chính sách của Chính phủ, cơ chế cho vay hoặc hỗ tr ợ v ốn c ủa các TCTD,
yếu tố quyết định vẫn là sự nỗ lực của bản thân DNNVV. Các DNNVV c ần
đánh giá lại chiến lược sản phẩm, marketing, nhân l ực nhằm nâng cao s ức
cạnh tranh của sản phẩm và đổi mới cơng nghệ tương ứng, tích c ực, ch ủ
động tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, ngân hàng đặc bi ệt là các
dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về quản lý tài chính, lập dự án kinh doanh.
Hai là, các DNNVV cần chấp hành nghiêm chỉnh Luật Doanh nghiệp, Luật
Kế toán và các quy định về tài chính, kế tốn của Nhà n ước, th ực hiện ki ểm
tốn báo cáo tài chính hàng năm, cung cấp thơng tin báo cáo chính xác và
kịp thời cho các TCTD khi có yêu cầu. Đây được coi là cơ sở quan tr ọng đ ể
ngân hàng đầu tư vốn.

Các DNNVV sử dụng vốn vay ngân hàng đúng mục đích, tuân th ủ các n ội
dung trong hợp đồng tín dụng; phối hợp với ngân hàng trong vi ệc th ẩm
định, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay; thiện chí, h ợp tác v ới ngân
hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảm.
Ba là, các DNNVV cần đổi mới và nâng cao trình độ quản trị điều hành
doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc t ế; không
ngừng đổi mới công nghệ, nắm bắt thông tin, chú trọng các sản ph ẩm hàng


hóa làm ra phải có tính cạnh tranh và thị trường tiêu th ụ; tăng c ường bổ
sung nguồn vốn chủ sở hữu; nâng cao trình độ và kỹ năng nghề nghiệp đối
với nhân viên.
*) Đối với Ngân hàng Nhà nước
Một là, chỉ đạo các NHTM dành một phần vốn tín dụng cho các DNNVV
hoạt động trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu, sản xuất - kinh doanh nh ững
mặt hàng thiết yếu, sử dụng nhiều lao động, tham gia vào các cơng trình
quốc gia quan trọng.
Hai là, nâng cao hơn nữa vai trị của Trung tâm Thơng tin tín dụng quốc gia
Việt Nam trong việc cung cấp thông tin tín dụng đối với NHTM.
Để thúc đẩy các DNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng phát tri ển s ản xu ất kinh doanh, hạn chế “tín dụng đen” thì việc khắc phục tâm lý e ng ại, tình
trạng thiếu hiểu biết của một bộ phận DNNVV đối với khả năng tiếp cận
tín dụng và lập hồ sơ vay tín dụng cũng là cần thiết và cấp bách.
*) Đối với Hiệp hội DNNVV
Một là, để hỗ trợ DNNVV phát triển, cần thay đổi cơ chế, chính sách đối
với DNNVV mạnh mẽ hơn nữa. Hiệp hội DNNVV nên chủ động tìm hiểu
những khó khăn của DNNVV, từ đó, kiến nghị Quốc hội, Chính ph ủ v ề các
vấn đề của các DNNVV trong tình hình hiện nay.
Hai là, sớm thực hiện việc phân tích, đánh giá, phân loại các DNNVV trong
Hiệp hội để ngân hàng có chính sách hỗ trợ phù hợp đối v ới từng nhóm



khách hàng.
Ba là, thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng trình độ cho chủ
DNNVV và cán bộ quản lý DNNVV, hỗ trợ DNNVV xây dựng chiến lược phát
triển dài hạn, hướng dẫn chế độ hạch toán đúng quy định; cung c ấp các
dịch vụ kinh doanh. Nên hướng mạnh vào việc bổ túc tri thức quản trị kinh
doanh cho doanh nhân, đa dạng hóa hình th ức tơn vinh doanh nhân,
DNNVV xuất sắc, có nhiều đóng góp cho sự phát triển, tạo nên động l ực
cho DNNVV củng cố vị thế trong cộng đồng.
Bốn là, tăng cường năng lực tiếp cận thơng tin chính sách pháp luật cho
khối DNNVV, như xây dựng trang thông tin điện tử về hỗ trợ pháp lý cho
DNNVV; xây dựng Quỹ hỗ trợ DNNVV làm cầu nối cho TCTD và DNNVV tiếp
cận nhau, hỗ trợ DNNVV khai thác thị trường đầu ra, ch ủ động gửi danh
sách các DNNVV cần vay vốn để các TCTD có thể tiếp cận nhanh và hi ệu
quả.
*) Đối với Chính phủ
Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện các giải pháp hỗ trợ, giảm thuế,
lãi suất tín dụng thấp hơn để các DNNVV được tiếp sức, v ượt qua khó khăn
do đại dịch Covid-19 và có cơ hội phát triển; đồng th ời, hồn thi ện khung
pháp lý cho DNNVV hoạt động. Các cấp chính quyền, ngành ch ức năng c ần
quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đ ại; tích
cực cải cách thủ tục hành chính; thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư; nâng cao
chất lượng giáo dục - đào tạo, cung cấp nhân lực cho DNNVV; bảo đ ảm an
toàn, an ninh cho DNNVV, tạo ra mơi trường thơng thống để các DNNVV
hoạt động. Các văn bản chính sách liên quan DNNVV ph ải được th ực hi ện


theo hướng tạo những điều kiện thơng thống nhất cho DNNVV hoạt đ ộng,
như trong lĩnh vực đấu thầu, đất đai, thuế, đầu tư, phá sản DNNVV... Gi ảm
bớt các quy định, giấy phép can thiệp hành chính vào th ị trường.

=> Tóm lại, DNNVV mang lại sự năng động, thúc đẩy kinh tế phát triển và
cải thiện đời sống người dân, góp phần quan trọng trong việc khai thác
tiềm năng kinh tế của đất nước, tạo ra công ăn việc làm cho ng ười lao
động, giảm bớt sự chênh lệch về kinh tế giữa các vùng, miền. Đ ể có th ể
phát triển sản xuất - kinh doanh, DNNVV cần huy động thêm vốn và ngân
hàng là một kênh chủ chốt đáp ứng nhu cầu này. Trong quá trình ti ếp cận
vốn tín dụng ngân hàng, khó khăn của các DNNVV bắt nguồn t ừ c ả khía
cạnh chính sách, quy định của Chính phủ, lẫn trong th ực tế hoạt động của
bản thân DNNVV. Vì vậy, bên cạnh các chính sách của Chính ph ủ, c ơ ch ế
cho vay hoặc hỗ trợ vốn của các TCTD, yếu tố quyết định vẫn là s ự n ỗ l ực
của bản thân DNNVV.

ºº The end ºº



×