Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra lý luận, thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật (luận văn thạc sỹ luật học)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.05 MB, 120 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ

KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM
CAO ĐỘ GÂY RA - LÝ LUẬN, THỰC TRẠNG VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Sinh viên thực hiện
Mã số sinh viên
Lớp
Giáo viên hướng dẫn

Phạm Thị Thu Thuỳ
0955020167
DS34B
ThS. Nguyễn Xuân Quang

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2013


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tơi, có sự hướng dẫn của giáo
viên hướng dẫn. Các nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất cứ cơng trình nghiên cứu nào trước đây. Tất cả những thông tin
không phải là ý kiến của tác giả đều được trích dẫn nguồn rõ ràng và được thể hiện trong


phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 07 năm 2013
Tác giả

Phạm Thị Thu Thùy


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật Dân sự 2005

BLHS

Bộ luật Hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009

BTTH

Bồi thường thiệt hại

NNHCĐ

Nguồn nguy hiểm cao độ
Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số

NQ 03/2006

quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................................................... 1
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO
NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA ................................................................................. 7
1.1. Lý luận chung về nguồn nguy hiểm cao độ ...............................................................................7
1.1.1. Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ .................................................................................................. 7
1.1.2. Các nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật .................................................... 9
1.1.3. Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ......................................................................................... 19
1.2. Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra- một
trƣờng hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng .................... 20
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra ......................................................................................................................................................................... 21
1.2.2. Điều kiện phát sinh của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra .................................................................................................................................................................. 25
1.2.3. Xác định thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra ........................................................... 29
1.2.4. Xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra ......................................................................................................................................................................... 34
1.2.5. Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra .............................................................................................................................................. 40
KẾT LUẬN CHƢƠNG I .......................................................................................................................... 42
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA...................... 43
2.1. Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra ........................................................................................................................... 43
2.1.1. Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra .... 43



2.1.2. Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra ............................................................................ 56
2.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm ồi thƣờn thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra ...................................................................................................... 67
2.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra ................................................................................................................................... 67
2.2.2. Những kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm ồi thườn thiệt
hại o n uồn nguy hiểm cao độ gây ra ...................................................................................................... 69
KẾT LUẬN CHƢƠNG II ........................................................................................................................ 75
KẾT LUẬN ............................................................................................................................................... 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự tiến bộ khơng ngừng của trình độ khoa học kỹ thuật cùng với những thành tựu
nổi bật của q trình cơng nghiệp hóa, sự phát triển của q trình cơ giới hóa đã làm
cho cuộc sống của con người ngày càng cải thiện hơn. Các phương tiện giao thông ngày
càng hiện đại, các nhà máy chủ yếu sử dụng máy móc và dần được tự động hóa, hệ
thống điện phục vụ cuộc sống người dân ngày càng trải dài và mở rộng khắp cả nước,...
Đời sống tinh thần của con người ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy thì con người cũng phải gánh chịu những hậu
quả từ chính những sự phát triển đó. Trong số đó, có những tai nạn xảy ra do chính bản
thân tài sản gây ra mà con người không thể kiểm soát được hoặc mất khả năng kiểm
soát. Các vụ tai nạn do các phương tiện giao thông cơ giới gây ra ngày một tăng. Các
vụ tai nạn do chất nổ, chất cháy diễn ra ngày càng nhiều, điển hình là vụ nổ bình gas tại
phường An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương vào ngày 10/04/2012, làm 10 bị

thương nặng1; hay mới đây nhất là vụ nổ do hợp chất thuốc nổ sử dụng trong đạo cụ
làm phim gây ra tại hẻm 384 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, thành phố Hồ
Chí Minh ngày 24/02/2013 làm 11 người tử vong2. Liên tiếp trong tháng 5 năm 2013,
hàng loạt vụ cháy nổ lớn thiêu trụi hàng nghìn mét vng nhà xưởng, tài sản, máy móc
thiết bị của các doanh nghiệp ở TP Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh lân cận3. Gây bàng
hoàng cho các doanh nghiệp là vụ cháy vừa xảy ra vào ngày 18/5/2013, tại nhà xưởng
công ty sản xuất giày da trong Khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương, tiếp giáp
thành phố Hồ Chí Minh)4. Không chỉ vậy, cuộc sống thường ngày của người dân trở
nên mất an toàn hơn khi liên tiếp xảy ra vụ việc chết người liên quan đến hệ thống tải
điện. Trong đó, nổi bật nhất là vụ việc diễn ra ngày 13/4/2009 tại đường Âu Cơ,
1

An Nhơn, “Nạn nhân nổ as như n ọn đuốc sốn ”, (truy cập ngày 01/05/2013).
2
“Nổ kinh hoàng khiến 11 n ười tử von ”, (truy cập ngày 13/06/2013).
3
Nguyễn Lê - Thọ Sơn, “Báo động tình trạng cháy nổ ở các doanh nghiệp”, (truy cập ngày 22/05/2013).
4
DH, “Cháy ữ dội tại hu c n n hiệp n hần”,
(truy
cập ngày 22/05/2013).

1


phường Tân Thành, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh. Một người đi đường đã tử nạn do
sợi dây điện trung thế bị cháy đứt, rơi xuống đường5... Những vụ việc trên thiệt hại xảy
ra đều không phải do con người thực hiện mà do NNHCĐ gây ra. Vậy những thiệt hại
đó ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường và vấn đề bồi thường được giải quyết như thế nào?
Từ những sự việc trên, tác giả muốn nhắc đến những vấn đề liên quan đến NNHCĐ và

BTTH do NNHCĐ gây ra.
BTTH do NNHCĐ gây ra là một trường hợp cụ thể của chế định BTTH ngoài hợp
đồng trong Bộ Luật dân sự. Dù đã trải qua một thời gian dài hình thành và phát triển
nhưng vấn đề hiểu và áp dụng các quy định về BTTH ngồi hợp đồng nói chung và
BTTH do NNHCĐ gây ra vẫn là vấn đề khá phức tạp. Phức tạp bởi lẽ NNHCĐ ngoài
thực tiễn rất đa dạng và đây là một vấn đề khá rộng. Cho đến thời điểm này hướng dẫn
áp dụng trách nhiệm này chủ yếu quy định tại NQ 03/2006 nhưng những hướng dẫn
này vẫn tồn tại rất nhiều bất cập. Hơn nữa, có khá nhiều đề tài nghiên cứu về NNHCĐ;
tuy nhiên, các đề tài này chỉ nghiên cứu một cách khái quát về các loại NNHCĐ. Ở mỗi
đề tài lại có những quan điểm riêng và khơng thống nhất về những quy định trong trách
nhiệm BTTH. Không những thế, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
NNHCĐ cịn có sự nhầm lẫn trong việc áp dụng trách nhiệm này với trách nhiệm
BTTH do hành vi trái pháp luật của con người gây ra có lên quan đến NNHCĐ. Thêm
nữa, cách giải quyết vấn đề còn chưa hợp lý, chưa thống nhất.
Do vậy, tác giả chọn đề tài “Bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
gây ra- lý luận, thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật” với mong muốn sẽ đi
sâu làm rõ những vấn đề quan trọng còn chưa được nghiên cứu kỹ và những vấn đề còn
nhiều quan điểm khác nhau. Hơn nữa, đây là thời điểm BLDS đang được xem xét sửa
đổi, bổ sung nên đây là thời điểm mà cần có những đề xuất, kiến nghị. Tác giả mong
rằng đề tài sẽ góp một phần nhỏ trong việc hồn thiện hệ thống pháp luật nói chung và
Bộ luật Dân sự nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu
BTTH do NNHCĐ gây ra là một vấn đề khá phức tạp nhưng có ý nghĩa thực tiễn
cao nên đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Cho đến nay đã có rất
5

An Nhơn, “Dây điện rơi, iật chết một c
12/05/2013).

ái”, (truy cập ngày


2


nhiều cơng trình nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này. Cụ thể có các đề tài nghiên
cứu, khố luận như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Trần Dụ Yên và Hồ
Bửu Hoành năm 2000, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Khóa luận cử
nhân luật “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra” của tác giả Phạm
Tiến Dũng năm 2001, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân luật “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra” của tác giả Lê Thị Nguyên năm 2012, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, “Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại –
vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Thị Huệ- Nguyễn Minh Oanh- Đinh Văn ThanhNguyễn Minh Tuấn- Phạm Kim Anh- Vũ Thị Hải Yến- Nguyễn Hồng Hải- Vũ Thị
Hồng Yến- Bùi Thị Mừng- Nguyễn Hồng Bắc- Nguyễn Văn Cường- Bùi Dung HuyềnTrần Anh Tuấn, mã số: LH-08-05/ĐHL năm 2009, trường Đại học Luật Hà Nội.
Ngoài ra, cịn có những bài viết trên các tạp chí như: Bài viết “Bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí Tồ án nhân dân, số 2/2003 của tác
giả Mai Bộ; bài viết “Bổ sung khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ”, Tạp chí Nghiên cứu
Lập pháp, số 4/2005 của tác giả Nguyễn Xuân Đang; bài viết “Tìm hiểu về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí Kiểm sát, số 01/2005
của tác giả Lê Phước Ngưỡng; bài viết “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 18/2008 của tác giả Nguyễn
Văn Dũng; bài viết “Một số lý luận về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ
ây ra”, Tạp chí Khoa học pháp lý trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số
3/2011 của tác giả Nguyễn Xuân Quang; bài viết “Cần c th n tư liên tịch hướng dẫn
thi hành quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”, Tạp chí
Kiểm sát, số 07/2012 của tác giả Phạm Vũ Ngọc Quang; bài viết “ rách nhiệm bồi
thường thiệt hại o tác động của tài sản ây ra ưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí Luật
học, số 03/2013 của tác giả Bùi Thị Thanh Hằng và Đỗ Giang Nam.
Vấn đề trên cũng được đưa ra nghiên cứu trong các cuộc hội thảo như: Bài viết
“Một số ý kiến sửa đổi, bổ sung chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp

đồng trong BLDS- Nhìn từ thực tiễn xét xử” của tác giả Nguyễn Trương Tín và Phan
Trung Hòa tại hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh (28-29/9/2011) do Bộ Tư pháp tổ
chức; bài viết “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Lý luận, thực tiễn và
3


hướng sửa đổi BLD ” của Nguyễn Trương Tín và Đỗ Văn Đại tại Hội thảo ở Hà Nội
ngày 6-7/12/2011 do Nhà pháp luật Việt Pháp tổ chức.
Không những thế, có một số khóa luận có liên quan như: Đề tài “Bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồn ” của tác giả Đặng Thu Thảo năm 2003, đề tài “Vấn đề lỗi trong
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồn ” của tác giả Bùi Văn Châu năm 2004,
đề tài “Bồi thường thiệt hại do tại nạn iao th n đường bộ ây ra” của tác giả Võ Thị
Đăng Hà năm 2006, đề tài luận văn Thạc sỹ “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngThực trạng và kiến nghị” của tác giả Võ Thị Hồng Mai năm 2003.
Một số sách chuyên khảo có liên quan như “Luật bồi thường thiệt hại ngồi hợp
đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án” năm 2010 của tác giả Đỗ Văn Đại...
Các nghiên cứu trên, với những mức độ khác nhau đã hướng sự quan tâm vào các
vấn đề:
- Tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, các NNHCĐ; các vấn đề lý luận về trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng và BTTH do NNHCĐ gây ra;
- Thực trạng áp dụng trách nhiệm BTTH do NNHCĐ là phương tiện giao thông cơ
giới đường bộ gây ra và một số kiến nghị liên quan.
Tuy nhiên, các đề tài trên chưa đi vào tìm hiểu sâu các NNHCĐ- vấn đề mà pháp
luật cịn có sự thiếu đồng bộ trong từng quy định giữa luật chung và luật chuyên ngành.
Đồng thời, cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu sâu các vấn đề còn tồn tại liên
quan đến các quy định về quản lý, bảo quản và vận hành NNHCĐ. Bởi vậy, khoá luận
này sẽ bổ sung thêm những vấn đề nghiên cứu mà những người đi trước cịn chưa
nghiên cứu sâu và cụ thể, đó là:
- Tìm hiểu và đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về NNHCĐ;
- Xác định các NNHCĐ theo quy định của pháp luật một cách cụ thể, rõ ràng;
- Phân tích những vấn đề còn tồn tại liên quan đến các quy định về quản lý, bảo

quản và vận hành NNHCĐ;
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực
trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về BTTH do NNHCĐ gây ra theo pháp luật Việt
Nam. Từ đó, đề tài đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật cũng như tạo sự áp
dụng thống nhất trong thực tiễn.
4


Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Vấn đề BTTH do NNHCĐ gây ra là một vấn đề
khá rộng và còn nhiều vấn đề phải được nghiên cứu, làm rõ. Trong phạm vi đề tài này
tác giả tập trung nghiên cứu những quy định trong BLDS và những văn bản có liên
quan như: Luật Giao thơng đường bộ 2008, Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004,
Bộ luật Hàng hải 2005, Luật Đường sắt 2005... để làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm
NNHCĐ, xác định các NNHCĐ. Đồng thời, tác giả sẽ làm rõ các vấn đề xác định trách
nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra. Từ đó, đề tài chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp
luật khi quy định về vấn đề này cũng như thực tiễn áp dụng của Toà án liên quan đến
những vấn đề trên. Qua đó, tác giả sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật cũng như tạo nên sự thống nhất trong việc áp dụng các quy định của pháp luật
về BTTH do NNHCĐ gây ra trong thực tiễn.
4. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của khóa luận là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của
pháp luật hiện hành về NNHCĐ cũng như trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra; tìm
hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về BTTH do NNHCĐ gây
ra trong hoạt động xét xử của Tịa án. Qua đó tìm ra những bất cập, thiếu sót của pháp
luật để nêu kiến nghị hồn thiện pháp luật về trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra,
bảo đảm cho việc nhận thức và áp dụng chúng một cách thống nhất trong thực tiễn.
5. Phƣơn pháp n hiên cứu
Trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, kết hợp với phương
pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, dẫn

chiếu, diễn giải, phương pháp suy diễn logic, phương pháp so sánh, phương pháp hệ
thống hóa vấn đề... tác giả đi sâu vào hai khía cạnh lý luận và thực trạng của vấn đề
BTTH do NNHCĐ gây ra. Đối với phần lý luận, phương pháp sử dụng chủ yếu là
phương pháp phân tích, so sánh, dẫn chiếu, suy diễn logic để đưa ra một cái nhìn đầy đủ
về vấn đề BTTH do NNHCĐ gây ra và phân biệt với trách nhiệm BTTH do hành vi trái
pháp luật của con người có liên quan đến NNHCĐ. Ở phần thực trạng, tác giả đánh giá,
bình luận các quy định pháp luật và các bản án, quyết định của Tòa án để chỉ ra và lý
giải các hạn chế, bất cập về mặt pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật thông qua
phương pháp phân tích, suy diễn logic. Cuối cùng tác giả sử dụng phương pháp tổng
5


hợp để khẳng định những vấn đề đã được đưa ra và đã được lý giải tạo điều kiện cho
việc đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề BTTH do NNHCĐ gây ra.

6. Ý n hĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Khoá luận sẽ khái quát những vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTH do NNHCĐ
gây ra và có sự so sánh với trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của con người
có liên quan đến NNHCĐ. Điều này sẽ làm cho việc phân biệt hai loại trách nhiệm này
trở nên dễ dàng và tạo điều kiện cho việc xét xử được đúng đắn và thống nhất. Hơn
nữa, khoá luận chỉ ra các bất cập trong quy định của pháp luật và những kiến nghị hoàn
thiện sẽ tạo điều kiện cho các nhà làm luật xem xét sửa đổi các quy định ấy. Từ đó, hệ
thống pháp luật nói chung và pháp luật dân sự sẽ trở nên hoàn thiện hơn và việc áp
dụng pháp luật vào thực tiễn sẽ trở nên thống nhất.
7. Bố cục khố luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của khoá luận được chia thành hai chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra
Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu khái quát về những vấn đề lý luận về

BTTH do NNHCĐ. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích khái niệm NNHCĐ, các NNHCĐ theo
quy định của pháp luật; từ đó chỉ ra những đặc điểm của chúng. Sau đó, tác giả sẽ làm
rõ những vấn đề trong trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra thơng qua việc phân tích
khái niệm, đặc điểm, điều kiện phát sinh trách nhiệm, xác định thiệt hại, chủ thể có
trách nhiệm BTTH và những trường hợp khơng phải bồi thường.
Chương II: Thực trạng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày và phân tích thực trạng pháp luật và thực
trạng áp dụng pháp luật về BTTH do NNHCĐ gây ra. Từ đó, tác giả sẽ đưa ra các kiến
nghị để hồn thiện những quy định pháp luật cũng như khắc phục những vấn đề còn tồn
tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật đã được đề cập.
6


CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN
NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA
1.1. Lý luận chung về nguồn nguy hiểm cao độ
Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, những thành tựu mới của cơng
nghiệp hóa, cơ giới hóa đã làm thế giới ngày càng văn minh, hiện đại hơn. Tuy nhiên,
thực tế cho thấy rằng nó cũng kéo theo sự gia tăng các tai nạn nhiều khi nằm ngoài sự
chi phối, điều khiển của con người, đe dọa tới tính mạng, sức khỏe, tài sản… của con
người trong xã hội. Có những sự vật mà bản thân hoạt động của nó ln tiềm ẩn khả
năng gây thiệt hại cho con người và mơi trường xung quanh. Mặc dù con người ln
tìm mọi cách kiểm sốt, vận hành nó một cách cẩn trọng, an tồn nhưng vẫn có những
thiệt hại khách quan bất ngờ có thể xảy ra nằm ngồi sự kiểm sốt đó. Thuật ngữ
“NNHCĐ” xuất hiện để chỉ những sự vật như vậy. Tuy nhiên, những sự vật cụ thể nào
trong tự nhiên, đời sống xã hội của con người được xem là NNHCĐ? Chúng có những
đặc điểm gì? Việc xác định chính xác NNHCĐ sẽ giúp xác định được chính xác các vấn
đề liên quan đến trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra.

1.1.1. Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ
BLDS không định nghĩa thế nào là NNHCĐ mà chỉ liệt kê các NNHCĐ. Theo đó,
tại Khoản 1 Điều 623 BLDS quy định: “NNHCĐ ao ồm phươn tiện giao thông vận
tải cơ iới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đan hoạt độn , vũ hí, chất nổ,
chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các NNHCĐ hác o pháp luật quy
định”.
Như vậy, BLDS chỉ liệt kê các NNHCĐ mà không định nghĩa như thế nào là
NNHCĐ. Hơn nữa, BLDS cũng khơng có những quy định giải thích hay định nghĩa các
NNHCĐ trên mà chỉ đưa ra dưới dạng khái quát. Tuy nhiên, theo NQ 03/2006 thì: “Để
xác định NNHCĐ cần phải căn cứ vào Khoản 1 Điều 623 BLD và văn ản quy phạm
pháp luật khác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh
vực cụ thể đ ”6. Do đó, để xác định một sự vật có phải là NNHCĐ hay khơng, ngồi
6

Điểm b, mục 1, phần III NQ 03/2006.

7


việc căn cứ vào Khoản 1 Điều 623 BLDS thì cũng cần phải căn cứ vào các văn bản
pháp luật liên quan trong từng lĩnh vực cụ thể. Ví dụ như để xác định một vật có phải là
vũ khí hay khơng thì cần căn cứ vào Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 06
năm 2011 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và cơng cụ hỗ trợ.
BLDS và các văn bản pháp luật khác không định nghĩa thế nào là NNHCĐ. Như
vậy, NNHCĐ được hiểu như thế nào?
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội thì
NNHCĐ được hiểu là: “Vật mà khi bảo quản, sản xuất, vận hành, dịch chuyển... có
tiềm năn

ây ra thiệt hại cho m i trườn và n ười xun quanh. NNHCĐ ồm: phươn


tiện cơ iới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đan hoạt độn , vũ hí, chất nổ,
chất cháy, chất phóng xạ và các NNHCĐ hác...”7.
Ngồi ra, cịn có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Có quan điểm cho
rằng:“NNHCĐ theo Điều 623 được hiểu là những vật đan tồn tại hiện hữu mà hoạt
động vận hành, sản xuất, vận chuyển, bảo quản… chún lu n chứa đựng khả năn

ây

thiệt hại cho m i trường và nhữn n ười xung quanh. Tính nguy hiểm của nó cịn thể
hiện ở chỗ con n ười khơng thể kiểm sốt được một cách tuyệt đối n uy cơ ây thiệt
hại”8. Một quan điểm khác cũng có nhận định tương tự: “NNHCĐ là những vật thể hay
chất thể tồn tại trong tự nhiên, xã hội mà trong quá trình tồn tại, hoạt động của nó tiềm
tàng gây thiệt hại về tính mạng, tài sản cho nhữn n ười xung quanh, hay nói một cách
hác các đối tượn là NNHCĐ lu n lu n c

hả năn

ây n uy hại cho con n ười và

9

tài sản” . Một quan điểm khác lại cho rằng: “Các đối tượn được coi là NNHCĐ là
những vật, máy m c, phươn tiện... động vật (thú dữ) đan tồn tại mà hoạt động vận
hành, sản xuất, vận chuyển, bảo quản... chúng có tiềm ẩn nhữn n uy cơ ây ra thiệt
hại bất ngờ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản cho nhữn n ười xung quanh mà không
phải bao giờ con n ười cũn c thể lườn trước và có thể n ăn chặn (khơng kiểm sốt
được n uy cơ ây thiệt hại)”10.
7


Trường Đại học Luật hà Nội (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb. Cơng an nhân dân, Hà Nội, tr.
86.
8
Vũ Thị Hải Yến, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ây ra”,
(truy cập ngày 18/5/2013).
9
Nguyễn Xuân Quang (2011), “Một số vấn đề pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra”, Tạp chí Khoa học pháp lý trườn Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, (03), tr. 34- tr.38, tr.34.
10
Phạm Vũ Ngọc Quang (2012), “Cần có thơng tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, Tạp chí Kiểm sát, (07), tr.45- tr.53, tr. 45.

8


Các định nghĩa và quan điểm trên tuy khác nhau nhưng có những điểm chung là
đều xác định: NNHCĐ là những vật thể hay chất thể đan tồn tại hiện hữu trong tự
nhiên, xã hội mà trong quá trình tồn tại, vận hành của chúng luôn tiềm ẩn sự nguy
hiểm, rủi ro cao và khả năn

ây thiệt hại đối với tính mạng, sức khoẻ, tài sản của

nhữn n ười xung quanh mặc ù đã được áp dụng những biện pháp cần thiết về bảo
quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụn theo đún quy định của pháp luật.
1.1.2. Các nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật
1.1.2.1. Phươn tiện giao thơng vận tải cơ iới
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào chính thức đưa ra khái niệm
“phương tiện giao thông vận tải cơ giới”11. Hơn nữa, mỗi văn bản chuyên ngành lại có
những cách quy định khác nhau. Vấn đề này tác giả sẽ phân tích và làm rõ dưới đây.
Phương tiện giao thơng vận tải cơ giới bao gồm rất nhiều phương tiện như:

phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không.
Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định: “Phươn tiện tham gia giao
th n đường bộ gồm phươn tiện iao th n đường bộ và xe máy chuyên dùng”. Trong
đó, “phươn tiện iao th n đường bộ gồm phươn tiện iao th n cơ iới đường bộ,
phươn tiện iao th n th sơ đường bộ”12. Theo đó, “phươn tiện iao th n cơ iới
đường bộ (sau đây ọi là xe cơ iới) gồm xe

t ; máy éo; rơ mo c hoặc sơ mi rơ

mo c được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy
(kể cả xe máy điện) và các loại xe tươn tự”13.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 623 BLDS thì chỉ có phương tiện giao thơng vận
tải cơ giới mới được xem là NNHCĐ. Do vậy, các phương tiện giao thông cơ giới
đường bộ, cụ thể là xe ô tơ; máy kéo; rơ mc hoặc sơ mi rơ mc được kéo bởi xe ô
tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và
các loại xe tương tự là NNHCĐ.
Tại Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 và Điều 3 Nghị định 34/2010/NĐ-CP
ngày 02 tháng 04 năm 2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thơng đường bộ có quy định giải thích rõ hơn về một số phương tiện như máy kéo, các
11

Theo Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam- tập 2, Nxb. Công an nhân dân,
Hà Nội, tr. 307.
12
Khoản 17 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008.
13
Khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008.

9



loại xe tương tự ô tô, các loại xe tương tự mô tô, xe máy điện, các loại xe tương tự xe
gắn máy. Đó đều là các phương tiện chạy bằng động cơ và di chuyển với tốc độ cao.
Ngoài ra, việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các quy định của Luật
Giao thông đường bộ 2008; Nghị định 95/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 quy
định niên hạn sử dụng đối với xe ôtô chở hàng và xe ôtô chở người, Quyết định số
992/2003/QĐ- BGTVT ngày 09 tháng 04 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận
tải ban hành quy định bảo dưỡng kỹ thuật, sữa chữa ô tô...
Như vậy, các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đều là các “phươn tiện
vận hành bằn độn cơ, c

hả năn

ây n uy hiểm cao cho nhữn n ười xung quanh;

và để được phép sử dụng, pháp luật đòi hỏi phải c các điều kiện về n ười điều khiển,
về an toàn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng...”14. Các phương tiện này di chuyển với tốc
độ cao mà người điều khiển khó có thể làm chủ được tốc độ và khó có thể kiểm sốt
một cách tuyệt đối. Tuy nhiên, những phương tiện có gắn động cơ chưa hẳn là phương
tiện giao thông cơ giới đường bộ (như xe máy chuyên dùng).
Đối với đường thuỷ, theo Khoản 7 Điều 3 Luật Giao thông đường thủy nội địa
2004 thì: “Phươn tiện thuỷ nội địa (sau đây ọi là phươn tiện) là tàu, thuyền và các
cấu trúc nổi hác, c độn cơ hoặc h n c độn cơ, chuyên hoạt độn trên đường
thuỷ nội địa”. Và theo Khoản 8 Điều 3 Luật này quy định: “Phươn tiện th sơ là
phươn tiện h n c độn cơ chỉ di chuyển bằng sức n ười hoặc sức gió, sức nước”.
Xem xét toàn bộ những quy định của Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004, các văn
bản hướng dẫn thi hành và có liên quan, tác giả nhận thấy rằng các nhà làm luật khơng
có quy định về phương tiện giao thông cơ giới đường thủy nội địa. Trước đây, theo
Nghị định số 40/1996/NĐ-CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 về bảo đảm trật tự, an tồn
giao thơng đường thuỷ nội địa (đã hết hiệu lực) có định nghĩa: “Phươn tiện cơ iới là

phươn tiện có gắn độn cơ”. Như vậy, phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường
thuỷ nội địa là những phương tiện nào? Nếu không có quy định cụ thể thì việc xác định
những phương tiện nào là NNHCĐ sẽ khơng có cơ sở.
Tuy nhiên, nếu hiểu như Luật Giao thông đường bộ 2008 tức là phương tiện giao
thông vận tải cơ giới là các phương tiện vận hành bằng động cơ, di chuyển với tốc độ
cao mà người điều khiển khó có thể làm chủ được tốc độ và để được phép sử dụng, đòi
14

Nguyễn Xuân Đang (2005), “Bổ sung khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (04),
tr. 20- tr. 23, tr. 20.

10


hỏi phải có các điều kiện về người điều khiển, về an tồn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất
lượng... thì các phương tiện giao thông vận tải đường thuỷ nội địa (trừ phương tiện thô
sơ) là phương tiện giao thông vận tải cơ giới. Mặt khác, nếu theo định nghĩa về
NNHCĐ thì các phương tiện này được xem là NNHCĐ. Bởi lẽ khi vận hành thì các
phương tiện này đều tiềm tàng khả năng gây thiệt hại cho những vật xung quanh mà
con người khó có thể kiểm sốt được hoặc khơng cịn kiểm sốt được. Hơn nữa, việc
vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các quy định của Luật Giao thông
đường thuỷ nội địa 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Do vậy, phươn tiện giao
thông vận tải cơ iới đường thủy nội địa là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác di
chuyển bằn độn cơ chuyên hoạt độn trên đường thủy nội địa. Những phương tiện
này là NNHCĐ.
Đối với đường biển, Bộ luật Hàng hải 2005 điều chỉnh về phương tiện vận tải
đường biển là tàu biển (không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ và tàu cá)15. Theo
Điều 11 Bộ luật này thì “ àu iển là tàu hoặc cấu trúc nổi i động khác chuyên dùng
hoạt động trên biển”. Bộ luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái
niệm phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường biển. Vậy thì tàu biển có phải là

phương tiện giao thơng vận tải cơ giới và có phải là NNHCĐ khơng? Xét định nghĩa
trên thì tàu biển là phương tiện vận hành bằng động cơ và di chuyển với tốc độ cao.
Hơn nữa, khi vận hành thì khả năng gây thiệt hại của chúng sẽ là rất lớn và khả năng
kiểm soát của con người cũng rất hạn chế. Việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng
phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Hàng hải 2005 và các văn bản hướng dẫn thi
hành. Vì vậy, tàu biển là phương tiện giao thông cơ giới đường biển và là NNHCĐ.
Đối với đường sắt, theo Khoản 20 Điều 3 Luật Đường sắt 2005 có quy định:
“Phươn tiện iao th n đường sắt là đầu máy, toa xe, toa xe động lực, phươn tiện
chuyên dùng di chuyển trên đường sắt”. Và theo Khoản 22 Điều 3 Luật này thì: “ àu
là phươn tiện iao th n đường sắt được lập bởi đầu máy và toa xe hoặc đầu máy
chạy đơn, toa xe động lực, phươn tiện động lực chuyên dùng di chuyển trên đường
sắt”. Theo Tiêu chuẩn ngành số 22 TCN 348 – 06 về yêu cầu kỹ thuật và bảo vệ môi
trường phương tiện giao thông đường sắt ban hành kèm theo Quyết định số
22/2006/QĐ-BGTVT ngày 04/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giao thơng vận tải có giải
15

Điều 11 Bộ luật Hàng hải 2005.

11


thích thêm về các phương tiện giao thơng đường sắt như sau: “ oa xe động lực là toa
xe lắp độn cơ để tự di chuyển trên đường sắt. Phươn tiện chun dùng là ơtơ ray,
gng máy, cần trục, máy chèn đường, máy kiểm tra đườn và phươn tiện khác có thể
di chuyển trên đường sắt”16. Việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các
quy định của Luật Đường sắt 2005; các văn bản hướng dẫn Luật này; Tiêu chuẩn ngành
số 22 TCN 348 – 06 về yêu cầu kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông
đường sắt ban hành kèm theo Quyết định số 22/2006/QĐ-BGTVT ngày 04/5/2006 của
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải... Khi nghiên cứu thì tác giả nhận thấy rằng trong Luật
Đường sắt và trong các văn bản pháp luật có liên quan khơng đưa ra khái niệm phương

tiện giao thông vận tải cơ giới mà chỉ liệt kê các phương tiện giao thơng đường sắt mà
thơi.
Ta có thể thấy rằng các phương tiện giao thông đường sắt (trừ những phương tiện
chuyên dùng thô sơ di chuyển trên đường sắt) là các phương tiện có gắn động cơ, vận
hành bằng động cơ ấy trên đường sắt và để được phép sử dụng, địi hỏi phải có các điều
kiện về người điều khiển, về an toàn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng... Do đó, chúng
đều là phương tiện giao thơng vận tải cơ giới. Hơn nữa, khả năng kiểm soát của con
người khi chúng di chuyển trên đường sắt cũng hạn chế, khả năng gây thiệt hại cho
những thứ xung quanh là rất lớn. Vì vậy, chúng là NNHCĐ.
Đối với đường hàng không, theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006
thì phương tiện giao thơng vận tải đường hàng khơng là tàu bay. Khoản 1 Điều 13 Luật
này có giải thích về tàu bay: “ àu ay là thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác
động tươn hỗ với khơng khí, bao gồm máy bay, trực thăn , tàu lượn, khí cầu và các
thiết bị bay khác, trừ thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác độn tươn hỗ với
khơng khí phản lại từ bề mặt trái đất”. Tuy nhiên, các nhà làm luật không có quy định
nào nói về phương tiện giao thơng vận tải cơ giới đường hàng không. Tuy vậy nhưng từ
quy định trên, tác giả thấy rằng tàu bay là phương tiện vận hành bằng động cơ, di
chuyển với tốc độ cao, kích thước lớn, khả năng kiểm sốt của con người rất hạn chế.
Hơn nữa, để được phép sử dụng chúng thì pháp luật địi người lái phải thoả mãn điều
kiện nhất định, phương tiện phải đạt các tiêu chuẩn về an toàn kỹ thuật... Cụ thể là việc
16

Xem tiểu mục 3.2, 3.3 mục 3 Tiêu chuẩn ngành số 22 TCN 348 – 06 về yêu cầu kỹ thuật và bảo vệ môi trường
phương tiện giao thông đường sắt ban hành kèm theo Quyết định số 22/2006/QĐ-BGTVT ngày 04 tháng 5 năm
2006 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

12


vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ các quy định của Luật Hàng không

dân dụng Việt Nam 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Do đó, tàu bay là phương
tiện giao thơng vận tải cơ giới và là NNHCĐ.
Tuy nhiên, để được xem là NNHCĐ thì các phương tiện trên phải đang trong tình
trạng hoạt động, có nghĩa là nó đang di chuyển (cơ học hoặc điều khiển) hoặc không di
chuyển nhưng thiết bị đã được vận hành (ví dụ xe ơ tơ nổ máy nhưng chưa di chuyển).
Nếu như nó đang đứng n, khơng nổ máy hoặc khơng được vận hành hay hoạt động
thì đó khơng phải là NNHCĐ. Cụ thể như chiếc máy bay không hoạt động, đang đậu
trong sân bay và bị cháy nổ thì thiệt hại đó khơng được xem là thiệt hại do NNHCĐ gây
ra. Vì chiếc máy bay trong trường hợp này không phải là NNHCĐ.
1.1.2.2. Hệ thống tải điện đan hoạt động
Trong các văn bản pháp luật hiện nay, các nhà làm luật khơng có bất kỳ quy định
nào giải thích về hệ thống tải điện. Như vậy, thế nào là hệ thống tải điện. Theo Từ điển
tiếng Việt thì: “Hệ thống là tập hợp những yếu tố cùng loại hoặc cùng chức năn c
quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất”17. Như vậy, hệ
thống tải điện là tập hợp các trang thiết bị, thiết bị phụ trợ có chức năng tải điện có mối
liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất.
Khoản 3 Điều 3 Luật Điện lực 2004 có quy định: “Lưới điện là hệ thốn đường
dây tải điện, máy biến áp và trang thiết bị phụ trợ để truyền dẫn điện”. Qua đó, ta có
thể thấy rằng lưới điện là một hệ thống có chức năng tải điện và truyền dẫn điện. Do
đó, lưới điện là một phần của hệ thống tải điện. Ngoài ra, Luật Điện lực còn quy định
về thiết bị đo đếm điện. Trong đó:“ hiết bị đo đếm điện là thiết bị đo c n suất, điện
năn , òn điện, điện áp, tần số, hệ số công suất, bao gồm các loại c n tơ, các loại
đồng hồ đo điện và các thiết bị, phụ kiện èm theo”. Các thiết bị này cũng liên kết với
đường dây tải điện và các thiết bị khác của lưới điện. Chúng hỗ trợ cho q trình tải
điện. Do đó, các thiết bị đo đếm điện này cũng thuộc hệ thống tải điện. Như vậy, lưới
điện và các thiết bị đo đếm điện cấu thành nên hệ thống tải điện.
Ngoài ra, vận hành, bảo quản, sử dụng hệ thống tải điện phải tuân thủ Luật Điện
lực 2004; Nghị định 106/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Điện lực về bảo vệ an toàn
17


Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Văn hóa Sài Gịn, TP.Hồ Chí
Minh, tr. 737.

13


cơng trình lưới điện cao áp; Nghị định 81/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định
106/2005/NĐ-CP về bảo vệ an tồn cơng trình lưới điện cao áp; Thông tư 12/2010/TTBCT ngày 15 tháng 04 năm 2010 quy định về hệ thống điện truyền tải...
Tuy nhiên, để được xem là NNHCĐ thì hệ thống tải điện này phải đang hoạt
động, tức là đang có dòng điện chạy qua. Bởi lẽ, chỉ khi hệ thống tải điện đang hoạt
động thì mới có dịng điện. Khi điện tiếp xúc trực tiếp với môi trường xung quanh thì
khả năng gây thiệt hại đến tính mạng và sức khoẻ của con người là rất lớn. Hơn nữa,
khi tiếp xúc với những vật khác có thể dẫn đến cháy nổ. Như vậy, khi đang hoạt động,
tự thân hệ thống tải điện mới có khả năng gây thiệt hại cho người và vật ở xung quanh
nó. Ví dụ như trường hợp lưới điện trung thế đang hoạt động bị chập, bùng cháy và rơi
xuống đường làm chết người. Thiệt hại trong tình huống này do NNHCĐ gây ra. Cịn
nếu như lưới điện đang bị cúp điện mà gây ra thiệt hại thì đó khơng phải là thiệt hại do
NNHCĐ gây ra.
1.1.2.3. Nhà máy công nghiệp đan hoạt động
Trong các văn bản pháp luật hiện hành, khơng có văn bản nào giải thích về khái
niệm nhà máy cơng nghiệp. Theo Từ điển tiếng Việt thì: Nhà máy là “cơ sở sản xuất
của nền đại cơng nghiệp, thường sử dụng máy móc dùng một nguồn năn lượn tươn
đối lớn”18. Cịn cơng nghiệp là “n ành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện đại bao
gồm xí nghiệp khai thác và chế biến nguyên vật liệu và nhiên liệu, chế tạo công cụ lao
động, khai thác rừng, sông, biển, chế biến sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp, n ư n hiệp...”19. Như vậy, nhà máy công nghiệp là cơ sở sản xuất thường sử
dụng máy móc dùng một nguồn năng lượng tương đối lớn trong các ngành chủ đạo của
nền kinh tế quốc dân hiện đại. Nhà máy công nghiệp bao gồm xí nghiệp khai thác và
chế biến nguyên vật liệu và nhiên liệu, chế tạo công cụ lao động, khai thác rừng, sông,
biển, chế biến sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp...

Tuy nhiên, để được xem là NNHCĐ thì nhà máy cơng nghiệp phải đang hoạt
động. Bởi lẽ, chỉ khi nhà máy đang hoạt động thì mới tiềm tàng khả năng gây thiệt hại

18

Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Văn hóa Sài Gịn, TP.Hồ Chí
Minh, tr. 1156.
19
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Văn hóa Sài Gịn, TP.Hồ Chí
Minh, tr. 381.

14


cho mọi thứ ở xung quanh nó. Ví dụ như nhà máy bị cháy nổ do sự cố vận hành máy
móc trong sản xuất.
Chính vì tính chất nguy hiểm này nên việc vận hành, bảo quản, sử dụng nhà máy
công nghiệp phải tuân thủ Luật Phòng cháy chữa cháy 2001, Luật Điện lực 2004, Luật
Hoá chất 2007, Luật Năng lượng nguyên tử 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1.1.2.4. Vũ hí
Theo Điều 3 của Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 06 năm 2011 về
quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và cơng cụ hỗ trợ (sau đây xin gọi là Pháp lệnh
16/2011/UBTVQH12) thì: “Vũ hí ồm vũ hí quân ụn , sún săn, vũ hí th sơ, vũ
khí thể thao và các loại vũ hí hác c tính năn , tác ụn tươn tự”. Trong đó:
- Vũ khí quân dụng gồm:
(i) Súng cầm tay hạng nhỏ là vũ khí được thiết kế cho cá nhân sử dụng gồm súng
ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên và các loại súng khác có tính năng,
tác dụng tương tự;
(ii) Vũ khí hạng nhẹ gồm súng đại liên, súng cối dưới 100 mi-li-mét, (mm), súng
ĐKZ, súng máy phòng khơng dưới 23 mi-li-mét (mm), súng phóng lựu, tên lửa chống

tăng cá nhân, tên lửa phịng khơng vác vai, các loại vũ khí hạng nhẹ khác có tính năng,
tác dụng tương tự;
(iii) Các loại bom, mìn, lựu đạn, đạn, ngư lơi, thủy lơi, hỏa cụ;
(iv) Vũ khí khơng thuộc danh mục vũ khí do Chính phủ ban hành nhưng có tính
năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.
- Súng săn là súng dùng để săn bắn gồm súng kíp, súng hơi, các loại súng khác có
tính năng, tác dụng tương tự.
- Vũ khí thơ sơ gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả
đấm, quả chùy, cung, nỏ.
- Vũ khí thể thao là súng và các loại vũ khí thơ sơ dùng để luyện tập, thi đấu thể
thao.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 623 BLDS, vũ khí là NNHCĐ. Tuy nhiên,
“ hơng phải tất cả các loại vũ hí trên hi sử dụn đều mang tính chất nguy hiểm cao
độ. Bởi, với các loại vũ hí th sơ là c n cụ sản xuất, tư liệu sinh hoạt như ao ăm,
15


đinh a... thì h n thể coi là NNHCĐ”20. Thật vậy, các loại vũ khí thơ sơ, vũ khí thể
thao và các vũ khí khác có chức năng, cơng dụng tương tự là những vật được sử dụng
làm công cụ sản xuất, tư liệu sinh hoạt và bản thân chúng không thể tự gây thiệt hại cho
con người và những vật xung quanh nếu khơng có sự tác động của con người. Hơn nữa,
việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển chúng khá đơn giản; con người sử dụng chúng
thường xuyên và có thể kiểm sốt chúng khá dễ dàng. Chẳng hạn như dao găm, kiếm,
giáo, mác để làm bị thương người khác thì cần có sự tác động của con người như hành
động cầm chúng để đâm, rạch, chém... Như vậy, chúng không tiềm ẩn mối nguy hiểm
và không thể tự thân gây ra thiệt hại cho môi trường và con người xung quanh nên
chúng không được xem là NNHCĐ.
Chỉ có vũ khí qn dụng, súng săn và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng
tương tự là NNHCĐ. Bởi lẽ, các vũ khí trên là những vật mà hoạt động, vận hành, bảo
quản, sử dụng... chúng luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ra thiệt hại bất ngờ về tính

mạng, sức khoẻ, tài sản cho những người xung quanh mà con người khơng thể kiểm
sốt được hoặc khơng cịn kiểm sốt được. Chẳng hạn như bom, mìn... khả năng gây sát
thương, phá huỷ mọi thứ xung quanh của chúng rất lớn. Chúng có thể tự phát nổ gây
thương tích, làm chết người, huỷ hoại tài sản và những vật khác xung quanh nó mà
khơng cần sự tác động của con người. Vì thế, việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển
chúng phải tuân theo Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12 và các văn bản liên quan.
Tóm lại, các loại vũ khí được coi là NNHCĐ gồm vũ khí quân dụng, súng săn và
các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.
1.1.2.5. Chất cháy, chất nổ
Theo Khoản 2 Điều 3 Luật phịng cháy chữa cháy 2001 thì “chất nguy hiểm về
cháy nổ là chất lỏng, chất khí, chất rắn hoặc hàng hoá, vật tư dễ gây ra cháy nổ”.
Chất cháy là chất có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với ơxy trong khơng khí,
nước hoặc khi có tác động của các yếu tố khác ở nhiệt độ cao hoặc khơng cao (diêm,
phốt pho, xăng dầu...)21. Từ đó có thể thấy những chất này tiềm tàng một mối quy hiểm
rất lớn, có khả năng gây ra thiệt hại cho những thứ ở xung quanh nó và địi hỏi con
20

Nguyễn Xuân Đang (2005), “Bổ sung khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (04),
tr. 20- tr. 23, tr. 21.
21
Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam- tập 2, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
tr. 308.

16


người phải quản lý chúng một cách cẩn trọng. Việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển
chúng phải tuân theo Luật Phòng cháy chữa cháy 2001, các văn bản hướng dẫn Luật
này, TCVN 5507:2002 - Hoá chất nguy hiểm – qui phạm an toàn trong sản xuất, kinh
doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển... Những chất có đặc tính như trên là chất cháy

và là NNHCĐ. Hiện nay có rất nhiều loại chất cháy được sử dụng trong công nghiệp và
trong đời sống hàng ngày như dầu diesel, dầu bôi trơn máy, sơn, toluene, khí gas làm
lạnh hố lỏng...22
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 1 thì:
Chất nổ là hợp chất hóa học hay hỗn hợp những chất có khả năn
phản ứng nhanh (do một ích thích như va đập, ma sát, tia lửa... tác động từ
bên ngoài vào một điểm nhỏ của cả khối), gây tiếng nổ èm theo lượng nhiệt
lớn thốt ra và tạo thành sản phẩm có nhiều khí... Ví dụ trinitrotoluene
(thuốc nổ TNT), hỗn hợp (KNO3, lưu huỳnh, than gỗ) gọi là thuốc pháo
đen... h n thường chất nổ được gọi là thuốc nổ có các loại sau: thuốc nổ
phá, thuốc nổ phóng và thuốc nổ mồi.23
Mặt khác, theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm
2009 về vật liệu nổ công nghiệp quy định:“ huốc nổ là hoá chất hoặc hỗn hợp hoá
chất được sản xuất, sử dụng nhằm tạo ra phản ứng nổ ưới tác động của các kích thích
cơ, nhiệt, hoá hoặc điện”24. Việc vận hành, bảo quản, sử dụng chúng phải tuân thủ
Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12; Nghị định 39/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm
2009 về vật liệu nổ công nghiệp... Như vậy, do tính chất nguy hiểm, có thể gây sát
thương và phá hoại những vật xung quanh của nó rất lớn và con người khó mà kiểm
sốt được tuyệt đối nên thuốc nổ được xem là NNHCĐ.

22

Xem danh mục một số chất cháy ở phần Phụ lục I- Danh mục hàng nguy hiểm (Ban hành kèm theo Nghị định
số 109/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Đường sắt).
23
Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Khoa học Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt
Nam 1, Nxb. Công ty in Tiến Bộ, Hà Nội, tr. 420.
24
Xem một số loại thuốc nổ công nghiệp ở Danh mục vật liệu nổ công nghiệp được sản xuất và sử dụng tại Việt

Nam ban hành kèm theo Quyết định số 03/2006/QĐ-BCN của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ngày 14 tháng 3 năm
2006Về việc ban hành Danh mục vật liệu nổ công nghiệp được phép sản xuất và sử dụng tại Việt Nam.

17


1.1.2.6. Chất độc
Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Chất độc là chất có thể phá hủy, ức chế hoặc làm
chết cơ thể sốn ”25. Chất độc bao gồm các hoá chất dùng trong nông nghiệp (thuốc trừ
sâu, trừ cỏ, diệt chuột...); thuốc (thuốc tân dược, y học dân tộc); các hố chất trong cơng
nghiệp, mơi trường; các hố chất dùng trong gia đình; mỹ phẩm, vệ sinh; các chất ma
tuý; vũ khí chiến tranh hố học; thực phẩm (đồ ăn, uống); chất độc tự nhiên: động vật,
cây cỏ, nấm...26
Ngoài ra, Khoản 5 Điều 4 Luật Hố chất 2007 có quy định: hố chất độc là hóa
chất nguy hiểm có ít nhất một trong những đặc tính nguy hiểm như: độc cấp tính; độc
mãn tính; gây kích ứng với con người; gây ung thư hoặc có nguy cơ gây ung thư; gây
biến đổi gen; độc đối với sinh sản; tích luỹ sinh học; ơ nhiễm hữu cơ khó phân huỷ; độc
hại đến môi trường. Việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển chúng phải tuân theo Luật Hoá
chất 2007, các văn bản hướng dẫn Luật này, TCVN 5507:2002 - Hoá chất nguy hiểm –
qui phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển... Như
vậy, các loại hoá chất độc là chất độc và là NNHCĐ27.
1.1.2.7. Chất phóng xạ
Theo Luật Năng lượng ngun tử 2008 thì: “Chất phóng xạ là chất phát ra bức xạ
do q trình phân rã hạt nhân, chuyển mức năn lượng hạt nhân, có hoạt độ phóng xạ
riêng hoặc tổng hoạt độ lớn hơn mức miễn trừ”28. Hay theo Từ điển Bách khoa Việt
Nam 1 thì chất phóng xạ “là những chất chứa đồng vị phóng xạ của các nguyên tố - các
đồng vị này không bền, khi phân rã chúng phát ra các tia bức xạ (anpha, beta, gama,
notron...) và biến đổi thành chất khác... Có các phóng xạ tự nhiên (radi, urani, thori,
kali-40...) và các phóng xạ nhân tạo (plutoni 239, coban-60...)”29. Các chất phóng xạ
rất nguy hiểm đối với sức khoẻ con người. Theo Uỷ ban An toàn bức xạ Quốc tế thì

nhiễm phóng xạ có thể gây ra ung thư vòm họng, phổi; niêm mạc ruột bị tổn thương,
25

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Sài Gịn, Tp. Hồ Chí
Minh, tr. 272.
26
Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai, “Chất độc là ì?”,
(truy cập ngày 02/05/2013).
27
Xem các loại hoá chất độc tại Phụ lục IV- Danh mục hóa chất độc phải xây dựng phiếu kiểm sốt mua, bán hóa
chất độc (Ban hành kèm theo Nghị định số 26/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ).
28
Khoản 8 Điều 3 Luật Năng lượng nguyên tử 2008.
29
Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Khoa học Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt
Nam 1, Nxb. Công ty in Tiến Bộ, Hà Nội, tr.420.

18


dẫn đến tiêu chảy, sút cân, nhiễm độc máu, giảm sức đề kháng của cơ thể, ung thư; gây
vô sinh; phụ nữ bị chiếu xạ trong thời gian mang thai (đặc biệt là trong giai đoạn đầu)
có thể bị sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh ra trẻ bị dị tật bẩm sinh...30. Con người rất khó
kiểm sốt được một cách tuyệt đối các chất này. Việc bảo quản, sử dụng, vận chuyển
chúng phải tuân theo Luật Năng lượng nguyên tử 2008; Nghị định 07/2010/NĐ-CP
ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của
Luật Năng lượng ngun tử... Chính vì tính chất nguy hiểm đó nên chất phóng xạ được
xem là NNHCĐ.
1.1.2.8. Thú dữ
Hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa về thú dữ. Theo Từ điển

tiếng Việt thì “ hú ữ là động vật bậc cao, có lơng mao, có tuyến vú, ni con bằng
sữa, lớn, rất dữ và có thể làm hại n ười”31. Trong tự nhiên, có một số lồi động vật là
thú dữ như vượn, khỉ, heo rừng, hổ, báo, gấu, cu li, chồn, mèo rừng...32. Đây là những
lồi động vật cịn mang tính hoang dã, chưa được thuần hóa và có tính chất nguy hiểm
lớn. Chúng có thể gây thương tích, thậm chí là làm chết người, phá tài sản của người
khác mà con người cũng khó kiểm sốt được. Vì vậy, chúng được xem là NNHCĐ.
1.1.2.9. Các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định
Đây là quy định mà nhà làm luật dự trù trong trường hợp có pháp luật khác quy
định bổ sung NNHCĐ trong các văn bản khác.
1.1.3. Đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ
Từ khái niệm và các quy định cụ thể của từng loại NNHCĐ đã phân tích thì các
loại NNHCĐ này đều có những đặc điểm chung và khác biệt so với những những vật
thể hay chất thể khác như sau:
Một là, NNHCĐ là những vật thể, chất thể có thật, tồn tại bên ngồi thế giới
khách quan. Điều này có nghĩa là chúng phải hiện hữu trên thực tế mà con người có thể

30

Huyền Vi, “Phóng xạ hạt nhân có thể gây bệnh ì?”,
(truy cập ngày
21/5/2013).
31
Viện ngơn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.960.
32
Các động vật rừng hoang dã nguy hiểm tại Quy định về quản lý và điều kiện an toàn trong hoạt động ni, vận
chuyển cá sấu sống và các lồi động vật hoang dã nguy hiểm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Kèm theo
Quyết định số 83/2007/QĐ-UBND ngày 08 tháng 6 năm 2007 của Ủy ban nhân dân thành phố).

19



nhận biết bằng mắt thường hoặc bằng các dụng cụ khoa học hỗ trợ. Như vậy, nếu
những chất thể hay vật thể khơng tồn tại trên thực tế thì khơng phải là NNHCĐ.
Hai là, bản thân NNHCĐ chứa đựng nguồn nguy hiểm lớn, luôn tiềm ẩn nguy cơ
cao gây thiệt hại cho con người và những vật xung quanh mà con người khơng thể kiểm
sốt hoặc khơng cịn kiểm sốt được. Đây là đặc điểm quan trọng nhất phản ánh bản
chất của NNHCĐ và làm cho NNHCĐ khác so với những vật thể, chất thể khác. Thật
vậy, phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy cơng nghiệp, vũ
khí, chất độc, chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ, thú dữ như đã phân tích cụ thể ở mục
1.1.2 luôn tiềm ẩn mối nguy hiểm và chứa đựng khả năng gây thiệt hại lớn cho những
người xung quanh mà con người khó kiểm sốt được một cách tuyệt đối.
Ba là, NNHCĐ phải được quy định trong các văn bản pháp luật. Ngồi ra, trong
q trình quản lý, bảo quản và sử dụng thì người chiếm hữu, sử dụng chúng phải tuân
thủ nghiêm ngặt theo các quy định của văn bản pháp luật cụ thể liên quan đến NNHCĐ
đó.
Theo tinh thần tại Khoản 1 Điều 623 BLDS thì dù trong thực tế có tồn tại những
vật thể hay chất thể thỏa mãn các đặc điểm và dấu hiệu bản chất của NNHCĐ nhưng
chưa được pháp luật quy định thì khơng được xem là NNHCĐ. Như vậy, để xác định
một vật có phải là NNHCĐ hay khơng thì cần xác định chúng có được quy định trong
các văn bản pháp luật khơng.
Ngồi ra, chính vì tính chất nguy hiểm và khó kiểm sốt của các loại tài sản này
mà Khoản 1 Điều 623 BLDS có quy định: “Chủ sở hữu NNHCĐ phải tuân thủ các quy
định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụn NNHCĐ theo đún các quy định của
pháp luật”. Do vậy, trong quá trình tồn tại, vận hành của chúng đòi hỏi người chiếm
hữu sử dụng chúng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật có liên quan
đến các NNHCĐ. Nếu họ vi phạm các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử
dụng NNHCĐ mà gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác thì họ phải BTTH.
1.2. Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra- một
trƣờng hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra là một dạng của trách nhiệm BTTH ngoài

hợp đồng. Do đó, để hiểu thế nào là trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra, trước hết
cần hiểu trách nhiệm BTTH ngồi hợp đồng là gì? “Trách nhiệm BTTH ngồi hợp đồng
20


×