Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
VẬN DỤNG MƠ HÌNH HỌC TẬP KẾT HỢP (BLENDED LEARNING)
VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 – 1884), LỚP 11 TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
ThS - NCS Ninh Thị Hạnh
Khoa Lịch sử - Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
NCS tại Đại học Sư phạm Hà Nội
Email:
DĐ: + 84 (0)973 463 919
Tóm tắt: Học tập kết hợp (Blended learning) là mơ hình học tập hiện đại của
thời kỷ nguyên số và đang dần trở thành một xu thế tất yếu của thế giới. Ở Việt
Nam, mơ hình học tập này chưa được sử dụng rộng rãi và cịn gặp những khó khăn
nhất định. Trên cơ sở làm rõ khái niệm học tập kết hợp; vai trị, ý nghĩa của mơ hình
này đối với dạy học ở trường phổ thơng nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng, bài
viết đề xuất quy trình và vận dụng mơ hình học tập kết hợp vào dạy học một nội
dung kiến thức cụ thể.
Từ khóa: học tập kết hợp, Google Sites, dạy học lịch sử, Lịch sử Việt Nam
1858 – 1884…
1. Đặt vấn đề
Theo Giám đốc Facebook - Sheryl Sandberg: “Hiện nay có 40% dân số toàn
cầu sử dụng Internet mỗi ngày” [6]. Sự phát triển mạnh mẽ của Internet cùng với
ứng dụng phổ biến của các thiết bị điện tử thông minh giúp mọi người có thể dễ
dàng kết nối và tương tác với nhau từ bất kỳ nơi nào trên thế giới. Trong giáo dục,
điều đó đã đưa đến cơ hội cho sự phát triển và mở rộng của hình thức dạy học trực
tuyến (E-learning). Tuy vậy, E - learning cũng không phủ nhận vai trị chủ đạo của
các hình thức dạy học truyền thống. Học tập kết hợp (Blended learning) là một giải
pháp kết hợp học tập truyền thống với E - learning. Bài viết vận dụng mơ hình học
tập kết hợp Blended learning trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 1884 như một gợi ý cho việc sử dụng Blended learning trong dạy học nói chung và
dạy học Lịch sử nói riêng.
2. Nội dung nghiên cứu
1
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
2.1. Khái niệm mơ hình học tập kết hợp (Blended learning)
Học tập kết hợp (Blended Learning) là một thuật ngữ được sử dụng nhiều
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản,
… Ở Việt Nam, học tập kết hợp còn là một khái niệm mới mẻ.
Học tập kết hợp xuất phát từ nghĩa của từ "Blend" tức là "pha trộn", “hòa
hợp” [12]. Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp, hiện nay có ba cách định
nghĩa được sử dụng rộng rãi [1,21].
Thứ nhất, Blended learning là kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung
cấp các phương tiện truyền thông) (Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a,
2002b; Singh & Reed, 2001; Thomson, 2002).
Thứ hai,
Blended learning là sự kết hợp các phương pháp giảng dạy
(Driscoll, 2002; House, 2002; Rossett, 2002).
Thứ ba, Blended learning là sự kết hợp giữa hướng dẫn trực tuyến và sự
hướng dẫn giáp mặt (Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002; Ward & LaBranche,
2003; Young, 2002).
Mặc dù dựa trên các cách tiếp cận khác nhau nhưng ba định nghĩa đều thống
nhất học tập kết hợp là một mơ hình dạy học có sự phối hợp nội dung, phương pháp
và cách thức tổ chức dạy - học giữa các hình thức học tập.
Từ việc tiếp cận những quan niệm trên, tác giả bài viết cho rằng: học tập kết
hợp là mơ hình dạy học có sự kết hợp giữa hình thức dạy học trực tuyến và hình
thức dạy học giáp mặt (face to face) với một tỉ lệ phù hợp nhằm đảm bảo hiệu
quả giáo dục đạt được là cao nhất.
Học tập kết hợp hồn tồn khơng phải là sự bổ sung “cơ học” bù đắp cho các
nhược điểm của dạy học trực tuyến hay dạy học giáp mặt truyền thống. Trên thực
tế, đó là một mơ hình dạy học mới hoàn toàn về chất, làm thay đổi một cách căn bản
các quan điểm về lí luận dạy học vốn tồn tại từ trước đến nay. Học tập kết hợp bao
gồm sáu mơ hình được sử dụng thịnh hành trên thế giới [7], [4]:
- Mơ hình giáp mặt chủ đạo (The Face-To-Face Driver Model): quá trình dạy
học được diễn ra trong bối cảnh không gian và thời gian dạy học truyền thống trên
2
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
lớp học, có sự tích hợp các yếu tố của dạy học điện tử, các bài giảng trực tuyến hoặc
các nội dung trên mạng Internet;
- Mơ hình hốn đổi (The Rotation Model): quá trình dạy học được triển khai
dựa trên sự xoay vịng giữa các hình thức học tập trên lớp và ngồi lớp dựa trên nền
tảng cơng nghệ. Mơ hình hốn đổi lại được phân loại thành các mơ hình nhỏ: hoán
đổi trạm học tập (Station Rotation); lớp học đảo ngược (Flipped Classroom); Xoay
vịng cá nhân (Individual Rotation).
- Mơ hình linh hoạt (The Flex Model): các hoạt động học tập dựa trên nền tảng
khóa học trực tuyến kết hợp với hướng dẫn trực tiếp của giáo viên trên lớp. Người
học có thể chủ động lựa chọn hình thức học tập phù hợp với bản thân.
- Mơ hình lớp học trực tuyến (Online Lab School Model): Ở mơ hình này các
hoạt động dạy học theo môn/chủ đề/nội dung được triển khai trong phịng máy tính
chun biệt;
- Mơ hình kết hợp tự chọn (Self-Blend Model): người học tự lựa chọn các khóa
học trực tuyến với mục đích mở rộng, nâng cao trình độ, kiến thức theo các định
hướng của chương trình nhà trường;
- Mơ hình trực tuyến chủ đạo (The Online Driver Model): các hoạt động dạy
học được thiết kế và triển khai dựa trên các nền tảng công nghệ trực tuyến.
Trong các mơ hình dạy học này, Internet vừa là mơi trường phân phối tài
nguyên học, vừa là nơi diễn ra các hoạt động dạy - học. Người học tham gia vào quá
trình học tập bằng cách học giáp mặt trên lớp (nhóm, cá nhân, seminar, hội thảo);
học hợp tác qua mạng máy tính (chat, blog, online, forum) và tự học (trực
tuyến/ngoại tuyến, độc lập về không gian). Với mỗi nội dung, người học được học
bằng phương pháp tốt nhất, phương tiện tốt nhất, hình thức phù hợp nhất và khả
năng đạt hiệu quả cao nhất.
2.2.
Ý nghĩa của việc sử dụng mơ hình học tập kết hợp (Blended
learning) trong dạy học nói chung, mơn Lịch sử nói riêng
Học tập kết hợp là một mơ hình dạy học có ba ưu điểm nổi bật so với mơ
hình dạy học truyền thống hiện nay.
Thứ nhất, học tập kết hợp giúp mở rộng không gian lớp học
3
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
Học tập kết hợp mang đến một không gian dạy học điện tử có tính mở và
tương tác cao. Nếu như thông thường, lớp học được tổ chức trong một không gian
đóng kín với giáo viên, học sinh và bảng, phấn,… thì mơ hình học tập kết hợp với
các khơng gian học tập trực tuyến (online) đã mở ra cả một không gian học tập mới:
không giới hạn trong bốn bức tưởng của lớp học; không giới hạn thời gian học tập 8
tiếng trên lớp và mở rộng cơ hội giao tiếp và chia sẻ xã hội của người học.
Thứ hai, học tập kết hợp mở rộng nội dung học tập
Với mơ hình Blended learning người học được trải nghiệm, tiếp cận với nội
dung học tập đa dạng, tri thức và thơng tin cập nhật ngồi sách giáo khoa. Thậm
chí, trường học có thể mở rộng thêm các kênh kiến thức, các môn học mà không
cần mở rộng thêm không gian hay tăng thêm đội ngũ nhân viên, giáo viên.
Thứ ba, học tập kết hợp giúp cá nhân hóa việc học tập
Mỗi học sinh có tộc độ học riêng. Học tập hỗn hợp không chỉ tạo cơ hội để
người học được học tập theo nhu cầu, hứng thú và năng lực cá nhân mà giúp người
học có thể chủ động lựa chọn thời gian, không gian và môi trường học tập mà
không cần lo lắng về khoảng cách địa lý. Điều này giúp tăng cơ hội học tập cho
nhiều đối tượng học sinh khác nhau.
Đối với việc dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thơng, mơ hình học tập hỗn
hợp mang lại nhiều ý nghĩa tích cực:
Thứ nhất, phù hợp với đặc trưng kiến thức Lịch sử. Dạy học Lịch sử là hoạt
động mang tính đặc thù. Khác với các bộ môn khác, tri thức Lịch sử mang những
đặc trưng: tính q khứ, tính khơng lặp lại, sự thống nhất giữa “sử” và “luận”…
Người học không thể trực tiếp quan sát được lịch sử mà chỉ có thể nhận thức chúng
một cách gián tiếp thông qua các nguồn tư liệu. Mơ hình học tập kết hợp tạo cơ hội
cho người học tiếp cận nguồn tư liệu phong phú với các định dạng khác nhau: văn
bản, hình ảnh, âm thanh, sơ đồ, video… giúp người học có những hình dung sinh
động về quá khứ, cụ thể hóa sự kiện, khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử và
tạo hứng thú học tập.
Thứ hai, khắc phục những hạn chế trong phân phối thời lượng cho môn Lịch
sử ở trường phổ thông. Chương trình mơn Lịch sử (Ban Cơ bản) ở trường THPT
4
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
được xây dựng trong 139 tiết (52 tiết lớp 10, 35 tiết lớp 11, 52 tiết lớp 12), trung
bình 1 – 2 tiết/tuần (tùy theo từng kì học)1. Phân phối chương trình này được cho là
chưa tương xứng với vị thế, nội dung và mục tiêu của môn học. Với các cơng cụ
như Emodo, Google Sites hay Google Classroom… mơ hình Blended learning tăng
khả năng tương tác, hỗ trợ của giáo viên với người học và giữa người học với nhau
mọi lúc, mọi nơi với mọi thiết bị chỉ cần thiết bị đó có thể online được như điện
thoại thơng minh, máy tính bảng, máy tivi hoặc tính để bàn có kết nối Internet...
Thứ ba, phát triển năng lực chung và năng lực đặc thù của mơn học: Tính
định hướng kết quả đầu và được xây dựng trên nền tảng công nghệ, học tập kết hợp
có ưu thế trong việc phát triển các năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực
sử dụng công nghệ thông tin và năng lực hợp tác. Ngồi ra, với tính mở, linh hoạt
và hướng tới cá nhân, dạy học kết hợp có góp phần phát triển năng lực đặc thù của
bộ môn Lịch sử như: năng lực thu thập, xử lý thông tin về các sự kiện, hiện tượng
lịch sử; năng lực tái hiện các sự kiện, hiện tượng lịch sử; năng lực giải thích, đánh
giá các sự kiện, hiện tượng theo quan điểm lịch sử; năng lực vận dụng kiến thức lịch
sử để giải thích các sự kiện hiện tượng đang diễn ra.
2.3.
Vận dụng mơ hình học tập kết hợp (Blended learning) vào dạy học
Lịch sử Việt Nam (1858 – 1884), lớp 11 THPT
Để triển khai mơ hình học tập kết hợp được hiệu quả, giáo viên có thể thực
hiện theo quy trình dưới đây:
Bước 1: Phân tích cấu trúc nội dung của bài, chương hoặc phần học và điều
tra nhu cầu người học
Đây là công việc đầu tiên rất quan trọng khi triển khai mơ hình học tập kết
hợp. Và là cơ sở để khẳng định sự cần thiết và phù hợp của việc áp dụng mơ hình
học tập kết hợp cho nội dung kiến thức.
Theo phân phối chương trình Lịch sử lớp 11 (Chương trình Chuẩn), phần
Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 – 1884 là nội dung của hai bài học (Bài 19, bài 20)
thuộc chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX, phần ba: Lịch sử Việt
1
Tổng hợp dựa trên Phân phối chương trình mơn học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2011 – 2012
( />
5
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
Nam (1858 – 1918). Phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 – 1884 tập trung vào 4
nội dung lớn sau: Cuộc kháng chiến của triều đình Nguyễn; phong trào đấu tranh
của nhân dân; một số nhân vật lịch sử tiêu biểu và thái độ kháng chiến của triều
đình Nguyễn qua 4 bản hiệp ước năm 1862, 1874, 1883, 1884. Đây là giai đoạn lịch
sử quan trọng đánh dấu quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, kết thúc thời
kì phong kiến độc lập, đất nước ta rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp. Tuy
nhiên, khi khảo sát ý kiến học sinh (154 học sinh): có 86.8% ý kiến học sinh trả lời
gặp những khó khăn khi học hai bài này vì: nội dung kiến thức dài, khó; thiếu tư
liệu. Bài 19 và bài 20 cũng nằm trong số các bài học giáo viên (25.6%) và học sinh
(23.6%) đánh giá là bài viết khó hiểu [3,10].
Áp dụng mơ hình học tập kết hợp cho phần nội dung này sẽ giúp người học
khắc phục những khó khăn hiện tại và tạo cơ hội phát triển các kĩ năng, năng lực
chuyên biệt của môn học.
Bước 2: Xác định mục tiêu cần đạt được tương ứng với nội dung
Xác định mục tiêu cần đạt không chỉ định hướng cho việc tổ chức hoạt động
dạy học mà còn là cơ sở để thiết kế các hoạt động, công cụ kiểm tra đánh giá. Mục
tiêu cần đạt được định hướng trên các mặt: kiến thức cần đạt, kỹ năng được rèn
luyện, thái độ cần hình thành và năng lực hướng đến.
Một trong những mục tiêu về kiến thức xuyên suốt phần Lịch sử Việt Nam
giai đoạn 1858 – 1884 là người học đánh giá được trách nhiệm của triều Nguyễn
trong việc tổ chức nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp. Về mục tiêu thái độ:
Nhận thức khách quan khi đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn với lịch sử dân tộc
giai đoạn 1858 – 1884; xây dựng và bồi dưỡng được thái độ tự hào và ủng hộ
phong trào đấu tranh, kháng chiến của nhân dân.
Bước 3: Lựa chọn mơ hình phù hợp
Trên cơ sở phân tích nội dung bài học; điều tra nhu cầu học sinh và xác định
mục tiêu cần đạt, chúng tôi xây dựng một chuyên đề dạy học dự án phần Lịch sử
Việt Nam từ 1858 – 1884 với tên gọi: Trách nhiệm của triều đình Nguyễn trong
việc tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp (1858 – 1884) áp dụng mơ hình học
tập kết hợp, cụ thể là mơ hình lớp học đảo ngược - Flipped Classroom.
6
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
Mơ hình lớp học đảo ngược là một mơ hình sư phạm đảo ngược với dạy học
truyền thống. Trong đó, người học sẽ chủ động tìm hiểu kiến thức bài mới ở nhà
thường thì thơng qua việc đọc và xem video bài giảng. Thời gian ở lớp sẽ được sử
dụng để làm những cơng việc khó khăn hơn: giải quyết vấn đề, thảo luận, tranh luận
[8].
Bước 4: Số hóa học liệu
Để thuận tiện cho việc tổ chức thực hiện mơ hình học tập kết hợp, giáo viên
nên sắp xếp học liệu phục vụ nội dung bài học một cách khoa học và lựa chọn định
dạng số hóa phù hợp cho mỗi loại học liệu ở dạng “thô”. Ý đồ sư phạm của giáo
viên và nền tảng cơng nghệ hiện có sẽ quyết định định dạng số hóa của học liệu.
Giáo viên có thể sử dụng sự hỗ trợ của các phần mềm tin học phổ biến như: MS.
PowerPoint, Adobe Presenter, Office Mix, Camscanner… để số hóa học liệu.
Bước 5: Lập kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học chi tiết
Kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học có thể được ví như linh hồn của bài dạy,
mang lại cái nhìn xuyên suốt, nhất quán về tính logic của nội dung, cấu trúc các
thông tin liên quan đến bài học. Kế hoạch tổ chức cần thể hiện được tính hợp lý,
tương thích và khả thi của các phương án kết hợp trong bài dạy, tránh lạm dụng các
yếu tố công nghệ.
Với nội dung phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 - 1884, nội dung kiến thức
cơ bản bao gồm các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử sẽ được học sinh tìm hiểu trước
ở nhà qua định hướng của giáo viên và làm bài tập về nhà:
Bài tập 1: Lập bảng so sánh hành động của triều đình và nhân dân đối với
quá trình xâm lược của Pháp 1858 – 1884;
Bài tập 2: Viết 1 bài giới thiệu nhân vật về một trong những nhân vật sau: Tự
Đức, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Phạm Văn Nghị, Nguyễn
Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân.
Học sinh sẽ nộp bài và giáo viên phản hồi thông qua việc tương tác trên
website học tập. Ở lớp, học sinh sẽ tập trung thảo luận, làm việc nhóm, hồn thành
sản phẩm của dự án: Nhóm 1: Thiết kế trang bìa, mục lục cho tập san; Nhóm 2: Viết
lời giới thiệu cho tập san có nội dung về trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để
7
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
mất nước 1858 – 1884; Nhóm 3: Viết bài luận đánh giá thái độ của nhà Nguyễn qua
bốn hiệp ước năm 1862, 1874, 1883, 1884. Sản phẩm cuối cùng là tập san chuyên
đề về trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc tổ chức kháng chiến chống thực dân
Pháp (1858 – 1884) tập hợp từ bài cá nhân và bài nhóm.
Dưới đây là bảng phương án kết hợp theo các bước của dạy học dự án áp
dụng phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 -1884.
Bảng 2.1. Phương án học tập kết hợp theo các bước của dạy học dự án
Quy trình
tổ chức
Học tập trên lớp
Giáo viên
Học tập trực tuyến
Học sinh
Giáo viên
40%
Lựa
60%
chọn Tổ chức thảo luận Các nhóm thống
thống nhất tên chủ nhất lựa chọn chủ
chủ đề
đề/dự án
Học sinh
đề, dự án
Khảo sát nhu cầu Thực hiện khảo
của học sinh
30%
sát
70%
Trao đổi với nhau
và trao đổi với
Xây dựng kế Định
hướng
giáo viên để lập
nội
Giải đáp, hỗ trợ kế
hoạch thực dung, nhiệm vụ chủ
thực
qua mạng (email, hiện dự án qua
yếu và yêu cầu của
hiện
hoạch
website học tập)
mỗi nhiệm vụ
các công cụ trực
tuyến
(blog,
email,
website
học tập... )
20%
80%
Đọc tài liệu, làm
Thực
hiện
dự án
bài tập, chia sẻ
Hỗ trợ HS tạo sản
phẩm
Tạo một sản phẩm
Theo dõi, giúp đỡ,
thông tin và tạo
đánh giá học sinh
một sản phẩm
thể hiện kết quả
học tập
50%
Đánh
phản hồi
giá, Đánh giá sản phẩm
thực của học sinh
dựa vào các tiêu chí
Trình
50%
bày
phẩm.
sản
Phản hồi chi tiết Tự đánh giá sản
về hoạt động của phẩm của mình
cá nhân, nhóm
8
và của bạn (đánh
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
đã xây dựng (đánh
giá đồng đẳng).
giá thực)
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà giáo dục, xây dựng và phát triển chương
trình, tỉ lệ trong học tập kết hợp giữa dạy học giáp mặt và dạy học trực tuyến hiện
nay thường là 30:70 [2]. Trên thực tế, giáo viên chủ động và linh hoạt khi áp dụng
mơ hình học tập này. Giáo viên có thể căn cứ vào nội dung bài học; nhu cầu, năng
lực của người học và cơ sở vật chất, nền tảng cơng nghệ hiện có để xây dựng tỉ lệ
giữa dạy học giáp mặt và dạy học trực tuyến cho phù hợp. Ở những trường phổ
thơng có cơ sở vật chất tốt, được trang bị đầy đủ máy vi tính kết nối mạng… có thể
áp dụng mơ hình học tập kết hợp với tỉ lệ kết hợp “mạnh” được đề xuất ở bảng 2.1.
Ngược lại, ở những trường gặp khó khăn với nền tảng cơng nghệ, tỉ lệ kết hợp sẽ
“yếu” hơn và dạy học qua mạng sẽ mang tính hỗ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp.
Bước 6: Lựa chọn các công cụ, nền tảng công nghệ phù hợp
Một trong những công cụ hỗ trợ việc quản lí, tương tác trong day-học online
đơn giản là Google Sites. Google Sites là một dịch vụ của Google cho phép tạo ra
các website trực tuyến miễn phí với giao diện gọn nhẹ. Việc tích hợp với một loạt
các công cụ quen thuộc của Google: Google Forms, Drive, Gmail, Youtube đã
khiến cho Google Sites thực sự có một “nền tảng hậu thuẫn” rất lớn để triển khai
việc dạy học. Trong cơng cụ này, giáo viên và học sinh có thể tương tác với nhau
qua các hoạt động chính: đưa thông báo, tạo câu hỏi, giao bài tập, nêu ý kiến thảo
luận. Google Sites còn cho phép chèn các tiện ích vào website giúp cho nó sinh
động hơn, chẳng hạn: Google Calendar, Google NewsShow, Clock & Date,
Weather, Google Clock…
Lập kế hoạch tổ chức chi tiết và lựa chọn công cụ thể hiện phù hợp. Nội
dung chuyên đề được thiết kế trên địa chỉ:
/>Bước 7: Vận hành thử, đánh giá
Để vận hành giáo viên cung cấp địa chỉ website học tập và mở quyền truy cập
cho học sinh. Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện các nhiệm vụ theo tiến trình
và u cầu trong khóa học.
9
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
Quy trình vận dụng mơ hình học tập kết hợp (Blended learning) trong dạy học
phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1884 trên đây có thể coi như một đề xuất,
gợi ý cho việc sử dụng rộng rãi, hiệu quả cơng nghệ thơng tin trong dạy học nói
chung và dạy học Lịch sử nói riêng. Trên thực tế, đây là mơ hình khá mới mẻ trong
giáo dục phổ thơng ở Việt Nam. Hiện nay mới được áp dụng hiệu quả ở một số
trường quốc tế và một số trường chuyên tại các thành phố lớn [13], [14]. Bởi nó
cũng có nhược điểm nhất định: mất nhiều thời gian, cơng sức cho việc soạn giảng;
giáo viên phải có khả năng về công nghệ, vững vàng về phương pháp; và không
phải bài học, đối tượng học sinh và trường phổ thông nào cũng phù hợp để áp dụng
mơ hình này.
Để mơn hình Blended learning trở nên phổ biến và phát huy được thế mạnh
vốn có, địi hỏi phải có lộ trình phát triển chặt chẽ tập trung vào ba nội dung then
chốt: Thay đổi tư duy của người dạy và thói quen học tập của người học; trang bị
kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản cho giáo viên và học sinh; đầu tư cơ sở vật chất
cho trường học.
3. Kết luận
Công nghệ thông tin không truyền tải được phần hồn của bài giảng; máy vi
tính, mạng Internet khơng thể thay thế vai trị của người giáo viên. Vì vậy, học tập
kết hợp không đảm bảo 100% thành công nhưng cũng không thể phủ nhận học tập
kết hợp giúp nâng tầm không gian dạy và học, tạo cơ hội cho học sinh học bất cứ
thứ gì và ở bất kỳ nơi đâu. Việc vận dụng mơ hình học tập kết hợp trong dạy học
nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng sẽ là một biện pháp tuyệt vời để phát triển
các kỹ năng cần thiết cho người học trong xã hội tri thức và thông tin hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anthony G. Picciano, Charles D. Dziuban, Charles R. Graham, Blended Learning:
Research Perspectives, Vol 2, Routledge Publishing, 2014, pp.21
2. Laila N. Boisselle, Online-Learning and Its Utility to Higher Education in the
Anglophone
Caribbean,
SAGE
Open,
October-December
2014
( />
10
Trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Lịch sử, Hội thảo “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh
hiện nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, H. 2016, tr.304 – 314
3. Hoàng Thanh Tú, Về sách giáo khoa Lịch sử trung học phổ thông hiện hành và
biên soạn sách mới sau năm 2015, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 43 (104) tháng
10/2014, tr. 10.
4. Tôn Quang Cường, Phạm Kim Chung, Tài liệu tập huấn thiết kế dạy học hỗn hợp
trong nhà trường ( />5. />6. />(Updated 1:12 PM, January 23, 2015)
7. (Update 12 February 2016)
8. (Access 27 July
2016)
9. (Access 27 July 2016)
10. ( (Truy cập ngày 27/7/16)
11. (Cập nhật ngày 05/12/2015)
12. />13. (Truy cập ngày 28/7/2016)
14. (Cập nhật
ngày 1/2/2015)
THE APPLYING OF BLENDED LEARNING TO TEACHING
VIETNAMESE HISTORY (1858 – 1884), 11th GRADE IN
SECONDARY SCHOOLS
Ninh Thi Hanh
Abstract
Blended learning is a learning modern model and inevitable trend in the digital
era all over the world. In Vietnam, blended learning has not been commonly used
yet and has been encountering a variety of difficulty. Basing on the clarification of
blended learning theory, the article proposes process of applying blended learning
to teaching History in secondary schools.
Key words: Blended learning, Google Sites, teaching History, Vietnamese
history 1858 – 1884…
11