Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

Thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn huyện Bảo Yên - Khoá luận tốt nghiệp Trung cấp Lý luận chính trị - hành chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.07 KB, 35 trang )

TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÀO CAI
LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH A13-20
-----

BÙI TH GIANG

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỖI XÃ MỘT SẢN PHẨM
(OCOP) TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO YÊN

Giảng viên hướng dẫn: ThS. GVC Nguyễn Thị Ánh Đào

Lào Cai, tháng 12 năm 2021


TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÀO CAI
LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH A13-20
-----

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỖI XÃ MỘT SẢN PHẨM
(OCOP) TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO YÊN

Họ và tên học viên: Bùi Thuý Giang
Giảng viên Trung tâm Chính trị huyện Bảo Yên
Giảng viên hướng dẫn: ThS. GVC. Nguyễn Thị Ánh Đào
Phó Trưởng khoa lí luận cơ sở, Trường Chính Trị tỉnh Lào Cai



Lào Cai, tháng 12 năm 2021


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................1
NỘI DUNG ..................................................................................................3
Chương 1: Cơ sở lý luận về Chương trình Mỗi xã một sản phẩm..........3
1.1. Một số khái niệm....................................................................................3
1.2. Nội dung và vai trị chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội..........................................................................3
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình mỗi xã một
sản phẩm........................................................................................................6
Chương 2: Thực hiện Chương trình Mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn
huyện Bảo Yên.............................................................................................10
2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và những yếu tố tác động đến thực
hiện chương trình mỗi xã một sản phẩm.......................................................10
2.2. Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)...........11
2.3. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.................................................19
Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp thực hiện Chương
trình Mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn huyện Bảo Yên ......................23
3.1. Phương hướng........................................................................................23
3.2. Mục tiêu..................................................................................................23
3.3. Một số giải pháp ....................................................................................24
3.4. Kiến nghị ...............................................................................................28
KẾT LUẬN .................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................31


BẢNG QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KHCN
NN&PTNT
NTM
TNHH
UBND

Khoa học công nghệ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nông thôn mới
Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân


1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chương trình OCOP là chương trình phát triển kinh tế vùng nơng thôn
gắn với phát triển từ nội lực của mỗi địa phương gắn với điều kiện tự nhiên, văn
hóa của từng địa phương. Chương trình này là một trong những giải pháp góp
phần thực hiện tái cơ cấu ngành nơng nghiệp và thực hiện chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng NTM thành cơng. Chương trình này chủ yếu do người dân và
doanh nghiệp thực hiện, Nhà nước chỉ đóng vai trị kiến tạo cơ chế chính sách,
mơi trường để tạo môi trường thuận lợi phát triển. Nhà nước không làm thay,
khơng áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính. Để chương trình phát triển thành cơng
phải thực hiện chương trình tn theo nguyên tắc của cơ chế thị trường. Nhà
nước phải giải quyết mối quan hệ hài hịa giữa Nhà nước-nơng dân-doanh
nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của chương trình này, cuối năm 2018
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai đã tích cực triển khai chương trình “Mỗi xã một
sản phẩm”. Đến năm 2019, Chương trình OCOP của huyện Bảo Yên với 05 sản

phẩm được công nhận OCOP tỉnh Lào Cai (3 sản phẩm 4 sao, 2 sản phẩm 3
sao). Sau hơn 2 năm, các sản phẩm được cấp sao của năm 2019 đều đảm bảo
tiêu chuẩn chất lượng, có đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, có logo thương hiệu riêng
và mã vạch hoặc tem điện tử để truy xuất nguồn gốc. Khơng chỉ thế, có đơn vị
sản xuất đã mạnh dạn đầu tư nâng cấp nhà xưởng, máy móc, hồn thiện quy
trình sản xuất, nâng cấp bao bì, tem nhãn sản phẩm với hình thức đẹp và chuyên
nghiệp hơn. Tuy nhiên trên thực tế trong quá trình triển khai dự án cịn gặp
nhiều khó khăn, vướng mắc.
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, em chọn “Thực hiện Chương trình
mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn huyện Bảo Yên” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp lớp trung cấp lý luận chính trị - hành chính.


2

2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình thực hiện chương
trình OCOP trên địa bàn huyện Bảo Yên, tìm ra những hạn chế của quá trình
thực hiện chương trình OCOP, từ đó đề xuất những giải pháp kiến nghị để thực
hiện có hiệu quả hơn chương trình OCOP trên địa bàn huyện Bảo Yên trong thời
gian tới.
3. Đối tương nghiên cứu:
Khố luận tập trung nghiên cứu chương trình OCOP trên địa bàn huyện
Bảo Yên.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Khố luận nghiên cứu về việc thực hiện chương trình
OCOP trên địa bàn huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Về thời gian: Số liệu sử dụng để nghiên cứu chủ yếu được thu thập trong
khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biên chứng,
duy vật lịch sử; quan sát, phân tích, thống kê…
6. Kết cấu khóa luận
Khố luận ngồi mở đầu, kết luận, nội dung gồm 3 chương 10 tiết.


3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHƯƠNG TRÌNH MỖI XÃ MỘT SẢN PHẨM
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Xã
Là một khái niệm mang tính ước lệ chỉ một cộng đồng dân cư cụ thể nào
đó, khơng phân biệt theo địa giới hành chính, cũng như về qui mơ. Có thể một xã,
hoặc nhiều xã, liên xã, liên huyện sản xuất một hoặc nhiều sản phẩm.
1.1.2. “Một sản phẩm”
Là một khái niệm mang tính ước lệ dùng để chỉ sản phẩm đặc trưng của
một cộng đồng dân cư nào đó tạo ra. Sản phẩm có thể là hàng hố hoặc sản
phẩm dịch vụ, nó mang những đặc điểm rất riêng biệt của nơi sản xuất ra nó,
khiến cho mọi người có thể dễ dàng nhận ra nơi sản xuất giữa những sản phẩm
cùng loại. Đồng thời, sản phẩm cũng phải mang đầy đủ các yếu tố cấu thành của
nó bao gồm phần cốt lõi, bao bì, nhãn mác, tiêu chuẩn, chất lượng, chứng nhận,
hướng dẫn sử dụng, chăm sóc khách hàng,...
1.1.3. Chương trình mỗi xã một sản phẩm
Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” có tên tiếng Anh là One
Commune One Product, viết tắt là OCOP được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018. Theo đó một làng/xã/phường,
một cộng đồng dân cư có thể phát triển một hoặc nhiều sản phẩm của mình,
nhưng có khi hai hay nhiều “làng/xã/phường” có thể kết hợp với nhau theo kiểu
sản xuất dây chuyền (có “làng” chỉ sản xuất bán thành phẩm, làm nguyên liệu
cho “làng” khác hoàn chỉnh sản phẩm) để tạo ra một loại sản phẩm, hàng hố

nào đó.
1.2. Nội dung và vai trị chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1. Nội dung chương trình OCOP


4

Chương trình OCOP có 06 nhóm ngành/hàng, tạo ra các sản phẩm cụ thể
đã qua chế biến, bao gói và đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định, các nhóm
ngành/hàng trong Chương trình OCOP, cụ thể:
(1) Nhóm thực phẩm, tạo ra các sản phẩm trong chế biến đồ ăn (ví dụ: từ
rau, thịt, trứng,...)
(2) Nhóm đồ uống, tạo ra các sản phẩm đồ uống có cồn (ví dụ: rượu,
bia,...) hoặc khơng cồn (ví dụ: nước khống, nước ép hoa quả,...)
(3) Nhóm dược liệu, tạo ra các sản phẩm có nguồn gốc từ nguyên liệu
dược (ví dụ: cao dược liệu, nước tắm, các loại trà thảo mộc,...)
(4) Nhóm vải, may mặc, tạo ra các sản phẩm từ bông, sợi sử dụng may,
dệt
(5) Nhóm Lưu niệm - Nội thất - trang trí, tạo ra các dòng sản phẩm đồ
trang sức, lưu niệm, đồ gia dụng, hoa văn trang trí,...
(6) Nhóm Dịch vụ du lịch nông thôn, tạo ra các sản phẩm du lịch, khám
phá (ví dụ: cảnh quan thiên nhiên, tâm linh, văn hóa truyền thống,...)
Mỗi địa phương (xã, phường), tùy theo điều kiện và hồn cảnh, vị trí địa
lý của mình lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng để
phát triển. Các sản phẩm này có thể là những sản phẩm tiêu dùng cụ thể như
nông sản, thủy hải sản hay đồ thủ công mỹ nghề nhưng cũng có thể là các sản
phẩm văn hóa du lịch... Điều quan trọng đối với các sản phẩm tham gia là mang
nét đặc trưng, kết hợp với các yếu tố địa lý, văn hóa truyền thống của địa
phương và được thị trường chấp nhận. Để thúc đẩy OCOP đạt hiệu quả trong

những năm qua, cần triển khai các nội dung:
Làm tốt công tác thông tin, phát triển nhận thức cho xã hội, thị trường
tiêu thụ hiểu được mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của OCOP, từ đó kích thích tiêu


5
thụ, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện và động lực cho người sản xuất mạnh dạn
đầu tư, phát triển các sản phẩm lợi thế của mỗi địa phương.
Phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng. Sản phẩm phải từng
bước nâng cao chất lượng, quy chuẩn, đáp ứng tiêu chuẩn các thị trường khác
nhau. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ phải đi liền với các hình thức tổ chức
sản xuất phù hợp (hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp hoặc hợp
tác xã). Việc phát triển sản phẩm phải gắn chặt với công tác đánh giá xếp hạng
của OCOP. Sản phẩm OCOP được đánh giá, xếp hạng và gắn sao có thứ hạng
cao phải được lịng dân “gắn sao” về uy tín và chất lượng.
Các tổ chức tài chính, tín dụng cần nghiên cứu, sớm có chương trình hỗ
trợ trực tiếp cho OCOP. Các tập đồn, cơng ty lữ hành lớn, các cơ quan báo chí,
truyền thơng cần tăng cường thơng tin về các sản phẩm đặc sản các vùng, vào
chương trình quảng bá du lịch, không chỉ trong tỉnh mà cả nước nhằm tăng
cường hơn nữa liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Công tác chỉ đạo thực hiện OCOP được gắn kết chặt chẽ với các chương
trình phát triển kinh tế trọng tâm của mỗi địa phương, gắn với thực hiện Đề án
phát triển 15 nghìn hợp tác xã. Các thủ tục hành chính hỗ trợ người sản xuất phải
thực hiện nhanh gọn, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cần nhiệt tình, tâm huyết
và có hiểu biết để chỉ đạo thúc đẩy đề xuất, sáng kiến về sản phẩm từ dưới lên (từ
các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất). Trong chỉ đạo, cần tập trung phát triển
các dự án mang tính chất trọng điểm, dự án liên kết vùng huyện, xã; thường
xuyên tổ chức các sự kiện vinh danh sản phẩm, dịch vụ du lịch (hội chợ).
Chấp hành tốt các quy định, quy trình và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá
sản phẩm OCOP; thực hiện tốt công tác tổ chức đào tạo, đào tạo chuyên sâu cho

đội ngũ cán bộ quản lý chương trình cũng như các chủ doanh nghiệp, hợp tác xã,
tổ hợp tác, chủ thể tham gia chương trình để có kiến thức về quản trị sản xuất,
kiến thức marketing, duy trì và thực hiện tốt khâu xúc tiến thương mại, giao lưu
thương mại giữa các tỉnh, thành trong cả nước, từng bước đưa nông dân hội


6
nhập thị trường; phối hợp thực hiện hiệu quả việc tư vấn và hỗ trợ ngân sách,
đưa tín dụng thương mại sâu rộng vào OCOP.
1.2.2. Vai trị của chương trình OCOP đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội
OCOP là chương trình phát triển kinh tế khu vực nơng thôn theo hướng
phát triển nội lực và gia tăng giá trị. Đây được coi là giải pháp, nhiệm vụ trong
triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM. Trọng tâm
của Chương trình OCOP là phát triển sản phẩm nơng nghiệp, phi nơng nghiệp,
dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế
tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất) và kinh tế tập thể thực hiện.
Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trong sản xuất,
thương mại các sản phẩm truyền thống, sản phẩm có lợi thế ở khu vực nơng
thơn, góp phần phát triển kinh tế nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia
tăng giá trị.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại sản xuất nông
nghiệp, nhằm phát triển kinh tế khu vực nông thôn, nâng cao thu nhập, đời sống
cho nhân dân trong Chương trình xây dựng NTM, thực hiện có hiệu quả nhóm
tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xã NTM.
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình
mỗi xã một sản phẩm
Việt Nam đã vận dụng bài học kinh nghiệm về phong trào OVOP tại
Nhật Bản. Thông qua OVOP, đã đặc biệt chú ý phát triển kinh tế - xã hội khu
vực nông thôn theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị, chú trọng các

nguồn lực tại chỗ sẵn có làm động lực phát triển.
Ngày 05/06/2017 Bộ NN&PTNT ban hành Quyết định số 2277/QĐBNN-VPCP về phê duyệt đề cương Đề án “Chương trình quốc gia mỗi xã một
sản phẩm” giai đoạn 2017-2020, định hướng 2030 & bộ công cụ điều tra, khảo
sát.


7
Ngày 07/5/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
490/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình quốc gia mỗi xã một sản phẩm” giai
đoạn 2018-2020. Mục tiêu tổng quát đề ra của Chương trình là: Phát triển các
hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (ưu tiên phát triển hợp tác xã, doanh
nghiệp nhỏ và vừa) để sản xuất các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thể đạt
tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp
phần phát triển kinh tế nơng thơn; Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao
thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và
tổ chức sản xuất” . trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM; Thông qua việc phát
triển sản xuất tại khu vực nơng thơn, góp phần thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa nơng nghiệp, nơng thơn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
hợp lý (hạn chế dân di cư ra thành phố), bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá
trị truyền thống tốt đẹp của nông thơn Việt Nam.
Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 490/QĐ-TTg
tỉnh Lào Cai đã xây dựng và ban hành nhiều Văn bản chỉ đạo để thực
hiện các hội nghị, hội thảo tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn và tổ chức đánh
giá sản phẩm cũng được tổ chức thường xuyên.
Ngày 8/9/2018, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định số
2997/QĐ-UBND về phê duyệt Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” tỉnh Lào Cai giai
đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát là:
Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (ưu tiên phát triển
HTX, SMEs) sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ du lịch có lợi thế, có khả năng
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, tập trung phát triển kinh tế

nông thôn theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho
người dân, thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong
Bộ tiêu chí Quốc gia về xã NTM giai đọan 2016-2020.


8
Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý (hạn
chế dân di cư ra thành phố, các khu công nghiệp,...), tận dụng nguồn nhân lực,
bảo vệ mơi trường và gìn giữ, phát triển xã hội khu vực nông thôn Lào Cai theo
hướng bền vững.
Để đảm bảo các chính sách hỗ trợ chương trình, Hội đồng nhân dân tỉnh đã
ban hành Nghị quyết số 12/2018/NQ-HĐND ngày 12/12/2018 quy định một số
chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào
Cai. Theo đó tiến hành hỗ trợ 15 triệu đồng/sản phẩm 3 sao; 30 triệu đồng/sản
phẩm 4 sao và 45 triệu đồng/sản phẩm 5 sao. Đối với sản phẩm OCOP đạt chứng
nhận cấp quốc gia từ 3 đến 5 sao: Hỗ trợ 80 triệu đồng/sản phẩm.
Ngày 20/12/2018, Sở Nông nghiệp và Nông thôn tỉnh Lào Cai ban hành
Quyết định số 233/QĐ-SNN về việc ban hành sổ tay hướng dẫn triển khai
chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn
2018-2020; ngày 05/01/2019, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Kế hoạch số
06/KH-UBND về việc triển khai thực hiện đề án “Mỗi xã một sản phẩm” tỉnh
Lào Cai giai đoạn 2018 – 2020.
Ngay sau khi UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 2997/QĐUBND ngày 28/9/2018 phê duyệt Đề án mỗi xã một sản phẩm tỉnh Lào Cai giai
đoạn 2018 -2020, định hướng đến năm 2030; Văn bản số 2100/SNN-PTNT ngày
17/10/2018 để triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm và các
văn bản khác có liên quan; UBND huyện Bảo Yên ban hành Kế hoạch số
240/KH-UBND ngày 12/12/2018 về việc triển khai thực hiện Chương trình
“Mỗi xã một sản phẩm” huyện Bảo Yên giai đoạn 2018 - 2020. Kế hoạch đã đặt
ra mục tiêu cụ thể cho chương trình OCOP trên địa bàn huyện là: Phát triển sản

phẩm: Xác định, lựa chọn hoàn thiện và nâng cấp ít nhất 05 sản phẩm thế mạnh
hiện có của địa phương đạt tiêu chuẩn từ 3 sao cấp tỉnh trở lên (năm 2018: 01
sản phẩm; năm 2019: 02 sản phẩm, năm 2020: 02 sản phẩm). Phát triển mới,
củng cố các tổ chức kinh tế sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP: Ít nhất là
củng cố, phát triển các tổ chức kinh tế sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thế


9
mạnh hiện có của huyện là: Chè Bảo Yên, Thịt trâu sấy (xã Vĩnh Yên); Măng
hốc (Việt Tiến); Tinh dầu Quế, Sả, Màng tang (Tân Dương); Hồng không hạt
Bảo Hà.
Ngày 6/3/2020, UBND huyện Bảo Yên đã ban hành Kế hoạch số 65/KHUBND về thực hiện Chương trình OCOP năm 2020 trên địa bàn huyện Bảo Yên.
Kế hoạch đề ra 3 mục tiêu chính bao gồm: 1. Phấn đấu xây dựng thành cơng tối
thiểu 06 sản phẩm thế mạnh hiện có của địa phương đạt chuẩn từ 3 sao cấp tỉnh
trở lên; dự kiến 02 sản phẩm đạt 4 sao và 04 sản phẩm đạt 3 sao; 2. Củng cố ít
nhất 03 tổ chức kinh tế sản xuất, kinh doanh sản phẩm thế mạnh của huyện; 3.
Đào tạo, tập huấn kiến thức cho cán bộ chuyên trách cấp huyện, xã; tập huấn
kiến thức chuyên môn quản lý sản xuất, kinh doanh cho lãnh đạo các doanh
nghiệp, Hợp tác xã, chủ hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh tham gia chương
trình.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bảo Yên lần thứ XXII, nhiệm kỳ
2020 – 2025 xác định: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành, tăng tỷ trọng chăn
nuôi, dịch vụ nông nghiệp; xây dựng các sản phẩm OCOP của huyện như: chuối
ngự Hồng Cam, khoai môn, hồng không hạt Bảo Hà, bánh gai, ếch sấy, măng
Việt Tiến, thịt trâu sấy, tinh dầu sả, tinh dầu quế, vịt bầu, gạo Séng cù, bánh mỳ,
thanh long, tơ tằm, chanh leo Bảo Yên và chuỗi giá trị trong sản xuất nông
nghiệp... Thu hút đầu tư siêu thị, cửa hàng tiện ích; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư
chợ tại khu vực đơ thị; chú trọng công tác thu mua tiêu thụ nông sản tại những
vùng sản xuất tập trung và các sản phẩm OCOP.



10
Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỖI XÃ MỘT SẢN
PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI

2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và những yếu tố tác động
đến thực hiện chương trình mỗi xã một sản phẩm
Bảo Yên là huyện cửa ngõ phía Đơng Nam của tỉnh Lào Cai, cách thành
phố Lào Cai 70 km về phía Tây Bắc. Phía Đơng giáp huyện Quang Bình (tỉnh
Hà Giang); phía Đơng Nam giáp huyện Lục Yên (tỉnh Yên Bái); phía Tây Nam
giáp huyện Văn Yên (tỉnh Yên Bái); phía Bắc, Tây Bắc giáp huyện Bảo Thắng,
Bắc Hà, Văn Bàn (tỉnh Lào Cai). Tổng diện tích tự nhiên tồn huyện 81.834,3
ha; gồm 16 xã và 01 thị trấn với 213 thôn, bản, tổ dân phố; dân số trên 86.000
người, có 13 dân tộc anh em cùng chung sống (dân tộc Kinh chiếm 32,56%; dân
tộc Tày: 31,93%; dân tộc Dao: 22,16%; dân tộc Mơng: 8,61%; cịn lại là các dân
tộc khác).
Địa hình Bảo Yên khá phức tạp, có núi cao, vực sâu, thung lũng hẹp và
bồn địa tương đối bằng phẳng tạo nên những cánh đồng rộng ở vùng Nghĩa Đô,
Vĩnh Yên, Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn. Tồn bộ diện tích của huyện nằm trong
hai hệ thống núi lớn là Con Voi và Tây Côn Lĩnh với độ cao trung bình từ 300 400 m so với mực nước biển. Nằm giữa hai hệ thống núi này là 2 con sông: sông
Hồng chảy qua 3 xã Cam Cọn, Kim Sơn, Bảo Hà với tổng chiều dài 35 km;
Sông Chảy chảy qua địa bàn 8 xã và thị trấn với tổng chiều dài 50 km.
Huyện Bảo Yên có Quốc lộ 70 chạy qua trung tâm huyện theo hướng
Bắc Nam; Quốc lộ 279 chạy theo hướng Đông - Tây kết nối với tỉnh Hà Giang;
có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua 2 xã Bảo Hà, Kim Sơn; có đường
cao tốc chạy qua địa phận xã Cam Cọn. Hiện nay UBND tỉnh đã phê duyệt quy
hoạch sân bay của Sa Pa đặt tại xã Cam Cọn, hiện đang được triển khai. Với hệ



11
thống giao thông đa dạng, phong phú nên việc giao thương, vận chuyển hàng
hóa của huyện tương đối thuận lợi.
Bảo n nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều.
Một năm có 4 mùa, tuy nhiên chỉ có hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến
tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. nhiệt độ trung bình tháng
cao nhất là 290C, tháng thấp nhất là 15 0C. Số giờ nắng trung bình cả năm 1.344
giờ. Tổng lượng mưa trong năm từ 1.450 mm đến 1.994 mm. Với đặc điểm địa
hình, khí hậu đã tạo nhiều tiềm năng, lợi thế cho Bảo Yên trong việc quy hoạch
phát triển vùng sản xuất nông nghiệp quy mô vừa và lớn, phù hợp với việc phát
triển nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế; chăn nuôi công nghiệp và bán công
nghiệp; phát triển du lịch sinh thái.
Với tất cả những điều kiện tự nhiên, xã hội riêng có, Bảo Yên có nhiều
thuận lợi để thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm với nhiều đặc trưng
riêng của các xã và phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số. Những thuận lợi đó
có tác động rất lớn để thực hiện chương trình này.
2.2. Kết quả thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)
2.2.1. Cơng tác lãnh chỉ đạo
Nhằm cụ thể hóa Quyết định thực hiện Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” tỉnh
Lào Cai giai đoạn 2018 - 2020 định hướng đến năm 2030, làm cơ sở cho các cơ
quan, ban, ngành, đoàn thể và các xã, thị trấn xây dựng Kế hoạch cụ thể triển
khai Chương trình OCOP giai đoạn 2021 - 2025 sát với tình hình thực tế, bảo
đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, UBND huyện Bảo Yên đã ban
hành Quyết định thành lập và phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban chỉ
đạo Chương trình (Lồng ghép với Ban chỉ đạo NTM và giảm nghèo bền vững)
và Hội đồng đánh giá và xếp loại OCOP huyện; Ban hành kế hoạch triển khai
thực hiện Chương trình OCOP của huyện giai đoạn 2018 - 2020 và kế hoạch
thực hiện chi tiết cho từng năm; Theo đó phân cơng đồng chí Phó chủ tịch
UBND huyện phụ trách lĩnh vực nông lâm nghiệp làm Chủ tịch hội đồng đánh



12
giá và xếp hạng sản phẩm OCOP huyện, Trưởng phòng NN&PTNT huyện làm
Phó chủ tịch Hội đồng, các thành viên tham gia bao gồm: Trưởng phòng Kinh tế
- Hạ tầng, Trưởng phịng Tài ngun và Mơi trường, Trưởng phịng Tài chính Kế hoạch, Trưởng phịng Văn hóa, thể thao - Truyền thông huyện, Giám đốc
Trung tâm y tế huyện. UBND huyện đã ban hành văn bản số 230/UBNDNN&PTNT ngày 28/02/2020... về việc hướng dẫn, đôn đốc các cơ sở sản xuất,
hợp tác xã đăng ký sản phẩm OCOP huyện và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo,
đôn đốc các xã, thị trấn, các đơn vị có sản phẩm tiềm năng đăng ký tham gia
Chương trình; Tổ chức đánh giá và xếp hạng sản phẩm OCOP huyện Bảo Yên
hàng năm.
2.2.2. Công tác tuyên truyền vận động
Bên cạnh đó, ngay sau khi có văn bản của Thủ tướng Chính phủ, áp dụng
Nghị quyết số 12/2018/NQ-HĐND ngày 12/12/2018 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Lào Cai về ban hành Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển
sản xuất nơng nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai, UBND huyện Bảo Yên đã tổ
chức tuyên truyền các nội dung hỗ trợ, trong đó có hỗ trợ sản phẩm đạt chứng
nhận OCOP tỉnh đến các xã , thị trấn thông qua các buổi tuyên truyền trực tiếp
do Phịng NN&PTNT chủ trì và lồng ghép vào các buổi tuyên vận của Ban
Tuyên giáo Huyện ủy. Trong 02 năm, tổng số buổi tuyên truyền đạt gần 60 buổi
với số người tham gia khoảng 3.000 người. Bên cạnh đó, huyện Bảo Yên cũng
chỉ đạo các xã, thị trấn đưa nội dung của chính sách vào các cuộc họp tại xã,
thơn nhằm tun truyền đến tồn thể người dân, doanh nghiệp trên địa bàn
huyện hiểu và hưởng ứng.
Trong tất cả các Hội nghị, lãnh đạo chính quyền địa phương, cán bộ phụ
trách và các hợp tác xã trên địa bàn huyện đều tích cực tham gia đề hiểu quy
trình, các quy định xây dựng, đánh giá và quảng bá sản phẩm. Qua đó, các cơ sở
sản xuất, các hợp tác xã đều có ý thức cao trong q trình chuẩn bị, sản xuất và
tìm cách để đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ với sự hỗ trợ của chính quyền
địa phương và các đơn vị có thẩm quyền. Qua quá trình triển khai, hầu hết



13
những hợp tác xã, các đơn vị sản xuất đều thay đổi nhận thức và có nhiều cách
làm khác nhau để phát huy lợi thế của địa phương, đem lại các sản phẩm đáp
ứng yêu cầu và có chất lượng cao.
2.2.3. Kết quả cụ thể
* Kết quả đánh giá, xếp hạng sản phẩm OCOP
Trong 3 năm qua, chương trình OCOP của huyện Bảo Yên được khẳng
định là chương trình phát triển kinh tế trọng tâm trong phát triển kinh tế vùng
nông thôn và kinh tế đô thị. Bằng nhiều cách làm sáng tạo, chương trình đã góp
phần xây dựng, phát triển thương hiệu sản phẩm nông sản và nâng cao thu nhập
của người dân. Những kết quả đạt được của chương trình thời gian qua đã thể
hiện quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị huyện trong cơng cuộc xây dựng, đổi
mới kinh tế huyện nhà theo hướng sản xuất hàng hóa.
Sau 03 năm triển khai, đến nay tồn huyện đã xây dựng được 17 sản
phẩm, trong đó có 11 sản phẩm đạt tiêu chuẩn từ 3 - 4 sao theo tiêu chuẩn tại
cuộc thi đánh giá sản phẩm OCOP tỉnh năm 2020. Cụ thể như sau:
Bảng : Tổng hợp các sản phẩm OCOP của Bảo Yên
Cấp
Cấp
tỉnh

Số
sao
2 sao

2018

2019


Chè Ô long (Công
ty Chè Đại Hưng);
Tinh dầu Quế
(Công ty Sơn Hải);
Thịt trâu sấy Bảo
Yên (Hộ kinh
doanh Hoàng Văn
Sử).

Mật ong sáp, Mật
ong sữa ong chúa,
Gạo Séng cù, Bánh
mì Bảo Yên

2020


14

3 sao

4 sao

4 sao

Cấp
huyện
3 sao

Phấn hoa, Chè

xanh, Ếch sấy
Thanh Mai, Gạo
Chè xanh, Phấn Séng cù Lương
hoa
Sơn, Thanh long
ruột đỏ Bảo n,
Hồng khơng hạt
Bảo Hà
Chè Ơ long, Mật
ong, Sữa ong chúa,
Chè Ô long, Mật
Tinh dầu Quế Bảo
ong, Sữa ong chúa
Yên, Tinh dầu Sả
Bảo Yên
Chè Ô long, Mật
Chè xanh, Chè Ô
ong và Sữa ong
Chè Ơ long (Cơng long, Mật ong, Sữa
chúa, Tinh dầu
ty Chè Đại Hưng); ong chúa, Phấn
Quế Bảo Yên và
Tinh dầu Quế hoa, Mật ong sáp,
Tinh dầu Sả Bảo
(Công ty Sơn Hải) Mật ong sữa ong
Yên, Gạo Séng cù
chúa
Lương Sơn
Thịt trâu sấy,
Hồng không hạt

Bảo Hà, Chuối
Thịt trâu sấy Bảo
ngự Hồng Cam,
Yên (Hộ kinh Gạo Séng cù, Bánh
Bánh gai Bảo Hà,
doanh Hồng Văn mì Bảo n
Khoai mơn Việt
Sử).
Tiến, Vịt bầu
Nghĩa Đơ, Ếch
sấy.
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo

Sao OCOP là đại lượng thể hiện chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm
OCOP trên thị trường, cũng như tiềm năng phát triển sản phẩm theo hướng hàng
hóa xuất khẩu. Tuy nhiên, các sản phẩm OCOP của huyện Bảo Yên thời gian đầu
lại không đạt sao cao khi mang lên cấp tỉnh. Một trong những nguyên nhân là do
các cơ sở có quy mô sản xuất và thị trường nhỏ, việc ứng dụng KHCN trong sản
xuất để nâng cao giá trị chưa đáng kể, dẫn đến sự thiếu mạnh dạn đầu tư vốn. Do


15
đó, chưa thể đáp ứng các tiêu chí nâng sao. Ngồi ra, theo đánh giá từ phía Sở
NN&PTNT, mỗi năm, đều duy trì tổ chức phân hạng, đánh giá các sản phẩm
OCOP. Trong đó, có khơng ít sản phẩm OCOP đăng ký đánh giá để nâng từ 3 sao
lên 4 sao. Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm chưa đáp ứng về các tiêu chí như: tổ
chức sản xuất, phát triển sản phẩm; khả năng tiếp thị; chỉ tiêu cảm quan, dinh
dưỡng, tính độc đáo của sản phẩm, khả năng xuất khẩu…
Để nâng cao chất lượng và nâng sao sản phẩm OCOP, huyện Bảo Yên đã
phối hợp với các cấp, ngành để tuyên truyền, tập huấn và hỗ đến các cơ sở sản

xuất nhằm xây dựng sản phẩm OCOP mới cũng như nâng sao cho sản phẩm
OCOP. Thông qua việc thay thế, cải thiện mẫu bao bì của sản phẩm để đảm bảo
tiêu chí thân thiện với mơi trường, đẹp mắt hơn; bố trí lại khu vực sản xuất, quy
trình sản xuất đảm bảo tiêu chuẩn HACCP (hệ thống phân tích các mối nguy và
điểm kiểm sốt trọng yếu trong quy trình chế biến thực phẩm)… các sản phẩm
OCOP của huyện Bảo Yên khi được đưa lên tỉnh đã được đánh giá cao hơn. Đến
năm 2020, đã có 11 sản phẩm OCOP được đánh giá 3 sao và 4 sao. Đồng thời,
huyện Bảo Yên đã vinh dự được UBND tỉnh Lào Cai lựa chọn 02 chủ thể là
HTX nông nghiệp và dịch vụ Vĩnh Yên đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng
Chính phủ và Cơng ty TNHH phát triển ong miền núi Thanh Xuân đề nghị Bằng
khen của Bộ NN&PTNT. Bên cạnh đó, tỉnh Lào Cai lựa chọn 2 sản phẩm OCOP
của huyện Bảo Yên là Tinh dầu Quế Bảo Yên và Mật ong để dự thi sản phẩm
OCOP tiêu biểu toàn quốc.
Hiện nay, các các tổ chức kinh tế có sản phẩm được chứng nhận OCOP
được hưởng chính sách hỗ trợ, cụ thể: Hỗ trợ 15 triệu đồng/phẩm 3 sao; 30 triệu
đồng/phẩm 4 sao. Qua khảo sát trực tiếp từ các tổ chức được hỗ trợ nhận thấy,
việc hỗ trợ các đối với từng sản phẩm được đánh giá, xếp hạng phần nào động
viên, hỗ trợ các tổ chức tiếp tục sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy
nhiên, các đơn vị sản xuất cần hỗ trợ thêm về việc quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.
Bởi lẽ, hiện nay, việc tiếp cận thị trường và quảng bá sản phẩm với các đơn vị sản


16
xuất cịn gặp nhiều khó khan; một phần do giới hạn về điều kiện kinh tế, một phần
do giới hạn về việc ứng dụng công nghệ thông tin để quảng bá sản phẩm.
Có thể khẳng định, việc thực hiện chương trình OCOP trong 3 năm qua,
người dân đã nhận được sự hỗ trợ tích cực của tồn huyện trong mọi khâu của
quá trình sản xuất sản phẩm OCOP. Đặc biệt, cơng tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện
chương trình từ tỉnh, huyện đến cơ sở được triển khai thực hiện đồng bộ quyết
liệt, linh hoạt, bài bản. Phòng NN&PTNT là cơ quan chủ trì, được UBND huyện

giao nhiệm vụ tham mưu cho UBND huyện thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn, đôn
đốc các xã, thị trấn và các doanh nghiệp trên địa bàn huyện triển khai thực hiện
có hiệu quả Chương trình OCOP. Mặc dù khơng có cán bộ chun trách lĩnh vực
OCOP, biên chế được giao thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan chủ trì cịn thiếu,
xong với sự chỉ đạo sát sao cùng với nỗ lực và quyết tâm cao của lãnh đạo và
cán bộ phụ trách, công tác tham mưu vẫn được thực hiện thường xuyên, kịp
thời.
* Công tác xúc tiến thương mại:
Hàng năm, huyện Bảo Yên đều tổ chức các gian hàng trưng bày, giới
thiệu sản phẩm đặc hữu của huyện tại các hội chợ thương mại trong tỉnh và các
hội chợ thương mại Việt - Trung; giới thiệu cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ
sở sản xuất trên địa bàn huyện tham gia các hội chợ OCOP do các tỉnh, thành
phố trên toàn quốc tổ chức nhằm giúp các đơn vị tìm kiếm, mở rộng thị trường.
Hiện tại, huyện Bảo Yên đang trình UBND tỉnh phê duyệt chủ trương hỗ
trợ huyện Bảo Yên xây dựng 01 gian hàng trưng bày các sản phẩm chủ lực của
huyện đặt trụ sở tại thành phố Lào Cai và sắp tới, huyện sẽ mở 02 gian hàng giới
thiệu sản phẩm tại khu di tích Đền Bảo Hà và Khu sân bay Sa Pa tại xã Cam Cọn.
Theo thống kê, doanh số bán hàng OCOP của các tổ chức kinh tế, cơ sở
hộ sản xuất OCOP sau khi sản phẩm đạt chứng nhận OCOP đều tăng doanh thu
từ 20 - 30% so với trước đây nhờ được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm
cũng như giá thành sản phẩm tăng.


17
Nhằm tạo ra cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, góp phần thúc
đẩy sản xuất phát triển, cung cấp thị trường những sản phẩm OCOP có chất
lượng tốt, tăng thu nhập cho người nông dân, huyện Bảo Yên còn thường xuyên
tổ chức các hội chợ, lễ hội trên địa bàn huyện hoặc tham gia các hội chợ tồn
quốc, hội chợ biên giới trong đó ưu tiên cho các gian hàng trưng bày sản phẩm
OCOP của huyện nhằm giúp các doanh nghiệp trong tỉnh quảng bá được hình

ảnh cũng như đưa các sản phẩm có thương hiệu, sản phẩm nông sản tiêu biểu
của huyện đến với người tiêu dùng trong nước và quốc tế.
* Kết quả giải quyết việc làm và thu nhập của người lao động, đồng
bào dân tộc thiểu số từ chương trình OCOP
Hàng năm, huyện Bảo Yên đều phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh
tổ chức các lớp tập huấn về OCOP cho cán bộ chuyên trách OCOP và các lãnh
đạo, nhân viên của các đơn vị sản xuất, doanh nghiệp trên địa bàn về các kỹ
năng nghiệp vụ liên quan nhằm nâng cao trình độ và hiệu quả làm việc cho đội
ngũ cán bộ và người lao động.
Trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình, mặc dù chịu ảnh
hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng hiệu quả kinh tế của Chương trình mang
lại khá rõ nét, đặc biệt là đối với các đơn vị sản xuất. Theo số liệu rà soát, báo
cáo của các đơn vị sản xuất có sản phẩm được cơng nhận OCOP năm 2019,
doanh thu của sản phẩm đó trung bình tăng từ 20 - 30%/năm, thị trường bán sản
phẩm cũng được mở rộng, trong đó phát triển mạnh là thị trường bán lẻ. Nguyên
nhân là do khi được cơng nhận sản phẩm OCOP thì sản phẩm đó phải được
chứng nhận đảm bảo nhiều tiêu chuẩn khá khắt khe về an toàn thực phẩm, tiêu
chuẩn và chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì… Do vậy, người tiêu dùng có cơ
sở và căn cứ để lựa chọn sản phẩm phù hợp, đảm bảo an toàn cho sức khỏe bản
thân và gia đình.
Do mới triển khai thực hiện Chương trình, đến cuối năm 2019, huyện
Bảo Yên mới xây dựng thành cơng 05 sản phẩm OCOP, năm 2020 có thêm 06
sản phẩm đạt chứng nhận OCOP hạng 3 sao và 4 sao cấp tỉnh, trong đó có: Ếch


18
sấy Thanh Mai, Thanh long ruột đỏ Bảo Yên, Hồng không hạt Bảo Hà, Tinh dầu
Quế Bảo Yên, Tinh dầu Sả Bảo Yên, Gạo Séng cù Lương Sơn. Do thời gian
mới được công nhận cùng với ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tác động
của Chương trình đến vấn đề giải quyết việc làm và thu nhập của người lao động

chưa được rõ nét. Chương trình mới chỉ thể hiện tác động đến tổng doanh thu
bán lẻ của chủ thể sản xuất tuy chưa thực sự nổi bật nhưng cũng đã có hiệu ứng
tích cực. Dự kiến trong thời gian tới, khi tình hình dịch bệnh dần ổn định và chủ
thể sản xuất có thời gian triển khai các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm
đến người tiêu dùng, việc đánh giá tác động của Chương trình đến vấn đề việc
làm và thu nhập của người lao động sẽ rõ ràng hơn.
* Đánh giá chung:
Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm”, mặc dù kết quả đạt được chưa cao,
mới chỉ có 11 sản phẩm được cơng nhận sản phẩm OCOP tỉnh Lào Cai. Tuy
nhiên, với một huyện có xuất phát điểm chưa cao trong phát triển kinh tế, hơn
nữa, đây cũng là chương trình mới, việc triển khai thực hiện còn nhiều hạn chế ở
nhiều khâu nên những kết quả đạt được trong hơn 2 năm qua đối với huyện Bảo
Yên đã là những kết quả đáng khích lệ, là động lực để trong thời gian tới sẽ hoàn
thiện và xây dựng thêm nhiều sản phẩm OCOP mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
đơn vị sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện. Có được kết quả như vậy, trước
tiên phải kể đến sự vào cuộc tích cực của tất cả hệ thống chính trị của huyện đã
tích cực tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người dân về chương trình, về lợi
ích của chương trình mang lại trong việc xây dựng thương hiệu riêng có cho Bảo
Yên, mang lại lợi ích kinh tế bền vững cho người dân. Vai trò của cán bộ phụ
trách triển khai thực hiện chương trình cũng được phát huy, thể hiện trong việc
hướng dẫn, kiểm tra và theo dõi việc thực hiện các hồ sơ, thủ tục để đánh giá,
chấm điểm của các đơn vị có sản phẩm dự thi OCOP. Bên cạnh đó là sự hưởng
ứng tích cực của các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện trong thời
gian vừa qua đã khơng ngừng hồn thiện sản phẩm của mình cả về mẫu mã lẫn


19
chất lượng sản phẩm, quan tâm đến việc xây dựng và quảng bá thương hiệu để
hướng tới nền sản xuất bền vững theo hướng hàng hóa.
* Nguyên nhân của những kết quả đạt được:

Sự quyết tâm của các cấp chính quyền trong việc triển khai thực hiện,
đưa chương trình OCOP trở thành chương trình xun suốt trong cơng cuộc xây
dựng NTM của huyện nhà.
Sự năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham
mưu, giúp việc cho huyện trong việc kịp thời nghiên cứu đúng, đủ tinh thần, chủ
trương của Nhà nước trong việc hỗ trợ, phát triển các sản phẩm chủ lực của địa
phương; thường xuyên hướng dẫn, hỗ trợ các đơn vị có sản phẩm dự thi OCOP
hoàn thiện các thủ tục hành chính cũng như hỗ trợ đơn vị trong việc hồn thiện sản
phẩm, xây dựng thương hiệu thông qua các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản
phẩm; tích cực tuyên truyền chương trình đến các thơn, bản, đến từng người dân để
tạo được sức nóng, sức lan tỏa của chương trình.
Sự quyết tâm, hăng hái của người dân, doanh nghiệp, các hợp tác xã thơng
qua việc khơng ngừng hồn thiện sản phẩm cả về mẫu mã lẫn chất lượng, quan
tâm xây dựng thương hiệu, tích cực tham gia các hoạt động quảng bá, giới thiệu
sản phẩm thay vì chỉ tập trung vào sản xuất như trước đây.
2.3. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
2.3.1. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, chương trình cịn gặp khơng ít khó
khăn, hạn chế xuất phát từ thực tế của địa phương.
Chương trình OCOP là Chương trình mới, việc triển khai Chương trình
OCOP ở một số địa phương trên địa bàn huyện cịn gặp nhiều khó khăn do
khơng bố trí được nhân lực. Phần lớn các cán bộ được giao kiêm nhiệm nhiều
cơng việc khác nhau ngồi Chương trình OCOP. Cán bộ được bố trí khơng đủ
thời gian thực hiện, chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhân lực trong
triển khai Chương trình. Trình độ quản lý, nghiệp vụ của cán bộ cấp huyện (cấp


20
hướng dẫn, thực hành), cấp xã (cấp triển khai, phối hợp, thực hành) cịn gặp khó
khăn trong việc thẩm định các dự án, phương án kinh doanh của các chủ thể

tham gia.
Việc tổ chức đánh giá của một số địa phương còn chưa thật sự quan tâm,
hồ sơ đề nghị đánh giá và xếp hạng sản phẩm đạt 03 sao ở cấp huyện đề nghị
đánh giá ở cấp tỉnh còn nhiều sai sót và thiếu những yêu cầu bắt buộc để đạt từ
03 sao theo quy định tham gia Chương trình, dẫn đến gây khó khăn trong q
trình thẩm định và đánh giá hồ sơ của Tổ Tư vấn giúp việc Hội đồng cấp tỉnh
mặc dù các địa phương đã được tập huấn và hướng dẫn cách đánh giá và xếp
hạng sản phẩm, hồ sơ tham gia đánh giá. Một số đơn vị vẫn còn lung túng trong
việc xác định lựa chọn sản phẩm đăng ký tham gia. Việc triển khai đánh giá
phân tích lựa chọn sản phẩm phù hợp với từng địa phương chưa đạt hiệu quả.
Chương trình OCOP là chương trình mới, mục tiêu và động lực là chủ
thể, trong khi đó cán bộ và các thành viên hợp tác xã thực hiện chương trình cịn
có tư tưởng bao cấp, tính trơng chờ ỉ lại (cứ nghỉ là tham gia chương trình để
được hỗ trợ), chưa có kinh nghiệm; kiến thức về chương trình nhất là kiến thức
về thị trường dẫn đến lúng túng trong công tác hướng dẫn, tổ chức cho các thành
viên hợp tác xã tham gia chương trình.
Tiếp đó là số lượng các hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ hợp tác tham gia
chương trình OCOP cịn ít, thiếu những đơn vị có đủ năng lực. Hầu hết các hợp
tác xã chưa có địa điểm tổ chức sản xuất tập trung, khâu sản xuất còn manh
mún, quy mô nhỏ lẻ, thiếu trang thiết bị chế biến, khâu quảng bá sản phẩm còn
hạn chế... nguyên nhân nhiều đơn vị, hộ sản xuất chưa nhận thức rõ, còn xem
nhẹ việc tham gia đề án OCOP, vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh còn
hạn chế, việc tiếp cận vốn vay cịn nhiều khó khăn.
Việc ứng dụng, chuyển giao các thành tựu KHCN còn chậm, chuỗi giá
trị hàng nông sản phần lớn mới chỉ dừng ở khâu sản xuất và tiêu thụ trực tiếp,
chưa có sự tham gia sâu của khâu chế biến, bảo quản. Liên kết trong sản xuất


21
cịn hạn chế, quy mơ, phạm vi của liên kết cịn nhỏ, hình thức liên kết cịn giản

đơn (chủ yếu dừng lại ở hợp đồng mua bán nông sản).
Mặc dù các sản phẩm OCOP đang dần khẳng định vị trí trên thị trường
song bài toán về đầu ra cho sản phẩm cũng đang khiến các địa phương không
khỏi lúng túng. Theo đó, để thúc đẩy sản xuất điều quan trọng nhất vẫn là đầu ra
cho sản phẩm. Bằng đặc trưng và chất lượng, các sản phẩm OCOP huyện Bảo
Yên đã và đang được người tiêu dùng đón nhận. Tuy nhiên, các sản phẩm này
mới chỉ dừng lại ở việc tiêu thụ trong phạm vi huyện, tỉnh tại các cửa hàng nhỏ
lẻ, một số ít sản phẩm tiêu thụ ở các địa phương lân cận.
Cùng với đó, mặc dù sản phẩm hàng hóa huyện Bảo Yên rất phong phú
về chủng loại, số lượng, chất lượng nhưng do các hợp tác xã chưa quan tâm đến
kiểu dáng, nhãn mác, bao bì đóng gói, nhất là các loại giấy chứng nhận như: an
tồn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, hệ thống tổ chức, sở hữu trí tuệ nên chưa
đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài huyện.
2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế
Nguyên nhân khách quan, địa hình tự nhiên của các huyện bị chia cắt
mạnh, phần lớn diện tích canh tác trên địa hình dốc, manh mún, xen lẫn đá,
khơng tạo được vùng chuyên canh rộng, cung ứng dồi dào sản phẩm để đáp ứng
các đơn hàng lớn. Giao thông, đi lại cịn khó khăn cho nên ảnh hưởng đến việc
giao thương và thu hút doanh nghiệp đầu tư liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Nguyên nhân chủ quan:
Nhận thức của cán bộ và người dân nhất là các chủ thể chưa đầy đủ, tư
duy chưa theo kịp yêu cầu của phát triển. Trình độ kiến thức của cán bộ cấp xã
cũng chưa thích ứng kịp về việc tổ chức, quản lý sản xuất theo mơ hình mới.
Người dân địa phương chủ yếu là đồng bào dân tộc, nhận thức còn hạn chế, tập
quán sản xuất vẫn là tự cung, tự cấp, khi bước vào sản xuất lớn theo chuỗi liên
kết, ứng dụng cơng nghệ cao thì phần lớn các hộ nơng dân cịn nhiều bỡ ngỡ.


×